Hạnh Phúc Bằng Bất Cứ Giá Nào

(1 đánh giá của khách hàng)

Nhiều người lầm tưởng rằng hoàn cảnh tạo nên con người, nhưng thực tế không phải vậy mà nó chỉ giúp con người bộc lộ bản thân. Thành công của con người không phụ thuộc vào của cải hay bộ sưu tập thành tích cá nhân, cũng không phụ thuộc vào hoàn cảnh của chúng ta khó khăn như thế nào, mà dựa trên cách chúng ta xử lý những gì đang có, và đối mặt với khó khăn ra sao, làm thế nào để biến đổi hoàn cảnh riêng của bản thân để phát triển và có cuộc sống tràn ngập yêu thương.

Danh mục:

Giới thiệu

Cuốn sách được chia làm hai phần chính, gồm những nguyên tắc hoạt động tâm lý và cách áp dụng các nguyên tác vào giải quyết các lĩnh vực trong đời sống.Các nguyên tắc này giúp chúng ta hiểu được hoạt động của tâm lý con người, dù đơn giản nhưng lại có ý nghĩa lớn lao, và vượt qua mọi rào cản về văn hóa, bao gồm:

Tư duy: Khả năng suy nghĩ của chúng ta tạo ra trải nghiệm tâm lý trong cuộc sống, và tư duy là một chức năng được điều khiển bởi ý thức con người.

Tâm trạng: Chúng ta hiểu rằng tư duy là một chức năng có ý thức, thay đổi từng phút từng ngày; những khác biệt đó gọi là tâm trạng.

Những thực tại tâm lý riêng biệt: Bởi mỗi người đều suy nghĩ theo một cách duy nhất, nên mỗi chúng ta đều sống trong một thực tại tâm lý riêng biệt với nhau.

Cảm xúc: Cảm xúc và tình cảm của chúng ta đóng vai trò như một cơ chế phản hồi sinh học bên trong, cho biết chúng ta đang như thế nào xét trên quan điểm tâm lý.

Thực tại: Thực tại là nơi chúng ta tìm thấy hạnh phúc và sự thanh thản trong tâm hồn.

Khi đã nắm vững được những nguyên tắc này, chúng ta sẽ ứng dụng chúng vào những vấn đề mấu chốt trong cuộc sống như: các mối quan hệ, stress, giải quyết các vấn đề, v.v…

Cuốn sách là một công cụ định hướng dẫn đường, đưa người đọc vượt qua những thử thách và đem lại niềm vui sống.

Đọc thử

NGUYÊN TẮC TƯ DUY

Tất cả những gì bạn đạt được và không đạt được đều là sản phẩm trực tiếp từ tư duy của chính bạn.

— James Allen

Con người là những sinh vật biết tư duy. Mọi thời khắc mỗi ngày, bộ óc của chúng ta đều hoạt động liên tục để giải nghĩa những gì chúng ta nhìn thấy và trải nghiệm. Mặc dù điều này nghe có vẻ hiển nhiên, nhưng đó là một trong những nguyên tắc ít được hiểu tường tận nhất trong cấu trúc tâm lý con người. Trong khi đó, hiểu biết về bản chất của tư duy chính là nền tảng để có một cuộc sống hạnh phúc và trọn vẹn.

Tư duy là một khả năng – một chức năng của ý thức con người. Không ai biết chính xác tư duy bắt nguồn từ đâu, nhưng có thể nói tư duy và thứ duy trì nhịp đập cho trái tim con người đến từ cùng một nơi – chúng đến từ sự sống. Cũng giống như các chức năng khác, suy nghĩ luôn hoạt động cho dù chúng ta muốn hay không. Theo đó, “tư duy” là một thành tố không chỉ của riêng ai.

Mối liên hệ giữa tư duy và cảm xúc

Mỗi cảm xúc tiêu cực (và tích cực) đều là kết quả trực tiếp của tư duy. Cảm giác ghen tuông, buồn bã hay giận dữ không thể xuất hiện nếu không có suy nghĩ ghen tuông, buồn bã và giận dữ. Chúng ta không thể chán nản nếu không có những suy nghĩ chán nản. Điều này dường như là hiển nhiên, nhưng nếu hiểu nó rõ hơn, chúng ta đều cảm thấy hạnh phúc hơn và sẽ sống trong một thế giới hạnh phúc hơn!

Hầu hết khách hàng làm việc với tôi trong những năm qua đều bắt đầu những buổi gặp gỡ như thế này:

Khách hàng : “Hôm nay tôi cảm thấy vô cùng chán nản.”

Richard : “Anh có nhận thấy rằng mình đang có những suy nghĩ chán nản không?”

Khách hàng : “Tôi không hề có suy nghĩ tiêu cực hay chán nản, tôi chỉ cảm thấy chán thôi.”

Phải mất một thời gian tôi mới nhận ra vấn đề trong cuộc nói chuyện của chúng tôi. Chúng ta đều được dạy rằng “suy nghĩ” nghĩa là ngồi xuống “trầm ngâm”, dành nhiều thời gian và công sức cho nó, như thể chúng ta đang giải một bài toán vậy. Theo quan niệm về tư duy này, một người không muốn dành sáu tiếng đồng hồ ám ảnh chỉ về suy nghĩ tức giận có thể cảm thấy khá “bình thường” nếu có khoảng mười lăm đến hai mươi suy nghĩ tức giận, mỗi lần khoảng 30 giây.

“Suy nghĩ về thứ gì đó” có thể kéo dài đến vài ngày hoặc chỉ trong một giây. Chúng ta thường coi trường hợp thứ hai không quan trọng, nếu ta nhận ra nó. Nhưng không phải vậy. Cảm xúc tuân theo và phản ứng trước một suy nghĩ, cho dù suy nghĩ đó kéo dài bao lâu chăng nữa. Ví dụ, nếu bạn nghĩ dù chỉ thoáng qua rằng “Ai cũng quan tâm đến anh trai mình hơn. Mình chưa bao giờ được quý mến như anh ấy cả,” thì việc hiện giờ bạn cảm thấy khó chịu với anh trai mình không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nếu bạn nghĩ “Sếp không đánh giá cao mình – mình sẽ không bao giờ được thừa nhận như những gì mình xứng đáng,” thì cảm giác rằng “công việc của mình thật tồi tệ” chẳng chóng thì chầy cũng xuất hiện ngay sau suy nghĩ đó thôi. Tất cả đều diễn ra chỉ trong một tích tắc. Khoảng thời gian cần thiết để cảm nhận được ảnh hưởng của tư duy cũng bằng khoảng thời gian để nhìn thấy ánh sáng sau khi bật công tắc đèn.

Tác động xấu của tư duy xuất hiện khi chúng ta quên mất rằng “tư duy” cũng là một chức năng của ý thức – một khả năng mà ai cũng có. Chúng ta sản sinh ra những suy nghĩ của chính mình. Tư duy không phải là điều gì đó xảy ra với chúng ta, mà là việc chúng ta làm. Nó đến từ bên trong con người, chứ không phải từ bên ngoài. Những gì chúng ta nghĩ quyết định những gì chúng ta thấy – mặc dù dường như nó phải theo chiều ngược lại mới đúng.

Hãy cùng xem xét trường hợp một vận động viên chuyên nghiệp đã “làm cả đội thất vọng” khi mắc một lỗi nghiêm trọng trong trận tranh cúp vô địch cuối cùng trước khi anh ta giải nghệ. Suốt nhiều năm sau khi từ giã sự nghiệp, thỉnh thoảng anh ta vẫn suy ngẫm về lỗi lầm đó. Khi mọi người hỏi “Tại sao lúc nào anh cũng có vẻ chán nản như vậy?”, anh ta đáp: “Tôi thật ngu ngốc khi mắc phải sai lầm ấy. Anh còn muốn tôi cảm thấy như thế nào nữa đây?” Vận động viên này không tự coi mình là chủ thể của suy nghĩ, cũng không hiểu rằng những suy nghĩ đó chính là ngọn nguồn của mọi đau khổ. Nếu bạn nói với anh ta rằng những suy nghĩ đó chính là nguyên nhân khiến anh ta buồn chán, anh ta sẽ thành thật đáp rằng: “Không phải vậy. Tôi buồn chán vì sai lầm mình gây ra, chứ tôi không hề nghĩ ngợi gì về nó. Thực ra tôi hầu như không còn nghĩ về nó nữa rồi. Tôi chỉ cảm thấy đau khổ vì thực tế đã diễn ra như vậy thôi.”

Chúng ta có thể gặp nhiều tình huống tương tự: một mối quan hệ trong quá khứ, một mối quan hệ hiện tại “đang gặp sóng gió”, một sai lầm trong quản lý tài chính, những lời nói cay nghiệt mà chúng ta đã làm tổn thương người khác, những chỉ trích nhắm tới chúng ta, thực tế là cha mẹ chúng ta không hoàn hảo như chúng ta tưởng, việc chúng ta chọn nhầm bạn bè hoặc nghề nghiệp, hay bất cứ chuyện gì – tất cả đều giống nhau. Chính suy nghĩ của chúng ta, chứ không phải hoàn cảnh, quyết định cảm xúc con người. Nhiều khi chúng ta quên rằng chính ta là người chịu trách nhiệm trước những suy nghĩ của bản thân, chính ta là người suy nghĩ, vì thế, ta cảm giác như hoàn cảnh tạo nên cảm xúc và trải nghiệm của chúng ta về đời sống. Do đó mỗi khi bất hạnh, con người lại càng dễ đổ lỗi cho hoàn cảnh, và điều đó khiến chúng ta cảm thấy bất lực trước cuộc đời mình.

Chúng ta làm chủ tư duy của chính mình

Không giống như các chức năng hay khả năng khác của con người, chúng ta thường không nhớ rằng chính ta làm chủ tư duy. Ai cũng đều biết rằng giọng nói là sản phẩm của khả năng ngôn ngữ. Rõ ràng là chúng ta không thể giật mình vì khả năng nói của bản thân, bởi ta thừa biết rằng chính mình tạo ra những âm thanh đó. Chúng ta có thể gào thét, kêu la, nổi giận và quát mắng, nhưng chúng ta vẫn không sợ giọng nói của mình.

Tương tự đối với khả năng nạp và tiêu hóa thức ăn. Bạn không bao giờ ăn thứ gì đó rồi tự hỏi tại sao mình lại cảm nhận được vị trên lưỡi – bạn luôn ý thức được rằng mình là người đưa thức ăn vào miệng.

Nhưng tư duy thì khác. William James, cha đẻ của ngành tâm lý học Hoa Kỳ, từng nói: “Tư duy là ngọn nguồn của trải nghiệm.” Mọi trải nghiệm và nhận thức trong cuộc sống đều dựa trên tư duy. Bởi tư duy đi trước mọi thứ và tự động vận hành, nên nó căn bản hơn và “gần gũi” hơn bất cứ chức năng nào của chúng ta. Chúng ta vô thức học cách diễn giải những suy nghĩ của bản thân như thể chúng là “hiện thực”, nhưng tư duy thực chất chỉ là một khả năng của con người – chúng ta sản sinh ra những suy nghĩ đó. Chúng ta rất dễ tin rằng bởi ta nghĩ điều gì đó thì chủ thể (nội dung) của suy nghĩ đó sẽ biểu trưng cho thực tại. Nhưng khi nhận ra rằng tư duy chỉ là một khả năng chứ không phải thực tại, chúng ta có thể xóa bỏ mọi suy nghĩ tiêu cực thoáng qua trong đầu. Khi làm như vậy, cảm giác tích cực về hạnh phúc bắt đầu xuất hiện. Nếu nuôi dưỡng những suy nghĩ tiêu cực (chú ý quá nhiều hoặc ngập chìm trong chúng), ta sẽ đánh mất cảm giác tích cực và hứng chịu ảnh hưởng tiêu cực từ chúng.

Dưới đây là một ví dụ tiêu biểu về việc ý tưởng bị hiểu sai như thế nào và việc thiếu hiểu biết này ảnh hưởng đến chúng ta ra sao – những “chủ nhân suy nghĩ”. Giả như bạn vô tình làm đổ một cốc nước xuống sàn một quán ăn, và khi ngẩng lên, bạn thấy một người đàn ông ở cách đó hai bàn ném cho bạn một ánh nhìn mà theo bạn là có vẻ khó chịu. Bạn phản ứng một cách giận dữ, “Ông ta bị làm sao vậy? Chẳng lẽ ông ta chưa làm đổ cái gì bao giờ à? Đúng là đồ khùng!” Những suy nghĩ về sự việc vừa xảy ra khiến bạn buồn bực, và cuối cùng bạn phá hỏng cả buổi chiều của mình. Mỗi khi nhớ đến sự cố đó, và suy nghĩ về nó, bạn lại thấy tức giận. Nhưng sự thật là người đó thậm chí còn không nhìn thấy bạn làm đổ nước. Anh ta đang ở trong thế giới riêng của mình, dằn vặt với những suy nghĩ của chính mình về một sai lầm nào đó anh ta mới gây ra. Anh ta chẳng chú ý chút gì đến bạn hết! Thực tế, anh ta còn không biết rằng bạn tồn tại trên đời.

Bất hạnh thay, tất cả chúng ta đều từng nhiều lần trải qua những tình huống như vậy. Chúng ta quên mất rằng mình chỉ đang suy nghĩ. Chúng ta lấp đầy đầu óc bằng những thông tin sai lệch, và sau đó hiểu chúng là “hiện thực” thay cho “ý nghĩ”. Giá như chúng ta nhớ được rằng chúng ta chính là chủ nhân suy nghĩ. Nếu chúng ta thực sự hiểu rằng mình đang suy nghĩ về điều gì đó, chúng ta sẽ chịu tác động của chính những suy nghĩ ấy, và do đó với sự việc xảy ra ở nhà hàng, chúng ta có thể nhận ra chính suy nghĩ nội tại chứ không phải ai khác khiến ta buồn bực.

Hiểu được nguyên tắc của tư duy và cách áp dụng chúng vào trải nghiệm sống là một món quà vô giá. Chúng ta không nhất thiết phải đấu tranh không ngừng với môi trường và mọi người xung quanh. Chúng ta cần duy trì cảm giác hạnh phúc tích cực bởi ta không còn bị áp lực phải nghiêm trọng hóa mọi ý nghĩ nảy ra trong đầu. Có thể bạn không có quyền kiểm soát đối với người khác, nhưng bạn có thể tránh được những tác động bất lợi từ những suy nghĩ của chính mình về người đó khi bạn hiểu rằng những gì bạn nghĩ chỉ là “ý nghĩ,” chứ không phải là “hiện thực”. Suy nghĩ của bạn quyết định cảm xúc chứ không phải sự việc. Khi không còn những ý nghĩ tiêu cực nữa, cảm giác tích cực sẽ xuất hiện.

Nếu không hiểu được nguyên tắc này, bạn sẽ thấy dường như suy nghĩ bị định đoạt bởi thế giới bên ngoài. Nhưng thực tế thì ngược lại. Chính tư duy hình thành kinh nghiệm của chúng ta về cuộc sống. Cách chúng ta suy nghĩ về điều gì đó, và quan trọng nhất là cách chúng ta liên hệ tới tư duy của mình, sẽ quyết định ảnh hưởng của nó lên chúng ta. Bản thân tình huống bên ngoài là trung lập. Chỉ tư duy mới khiến nó trở nên ý nghĩa mà thôi. Đây là lý do tại sao cùng một sự việc có thể sẽ mang những ý nghĩa hoàn toàn khác biệt đối với mỗi cá thể khác nhau. Trong ví dụ ở nhà hàng, nếu bạn xóa bỏ những suy nghĩ tiêu cực thì chuyện xảy ra đã không làm bạn phiền lòng. Khi tư duy tích cực, bạn sẽ vẫn suy nghĩ, nhưng bạn không “chạy theo chúng” để chúng làm khó bạn.

Mối liên hệ của chúng ta với tư duy

Hiểu biết của một người về mối liên hệ giữa tư duy và thực tế có thể được cắt nghĩa thành một thể liên tục như sau:

Ở một bên, suy nghĩ được coi là “hiện thực”. Xét về mặt lâm sàng, việc này giống như người mắc bệnh tâm thần – họ không bao giờ sử dụng từ suy nghĩ. Người bệnh tâm thần thực chất cho rằng mọi suy nghĩ là hiện thực. Đối với anh ta, suy nghĩ và hiện thực chẳng hề khác biệt. Nếu nghĩ rằng mình nghe thấy những giọng nói bảo phải nhảy ra ngoài cửa sổ, anh ta sẽ cố làm theo như vậy; nếu nghĩ mình nhìn thấy một con quái vật, anh ta sẽ bỏ chạy. Dù suy nghĩ điều gì, anh ta cũng đều tin rằng chúng là hiện thực, và lúc nào cũng vậy.

Ở đầu bên kia của chuỗi là mẫu người hiểu được quá trình tư duy – một người điển hình cho tinh thần lành mạnh và hạnh phúc – không nghiêm trọng hóa những suy nghĩ của bản thân hay bất cứ ai – một người hiếm khi để cho những suy nghĩ nhấn chìm và làm hỏng cả ngày của mình. Người ở phía này của cán cân có thể suy nghĩ rất nhiều, nhưng anh ta vẫn hiểu rằng “đó chỉ là suy nghĩ mà thôi”.

Hầu hết chúng ta ở giữa hai thái cực trên. Rất ít người trong chúng ta nghiêm trọng hóa mọi suy nghĩ để bị coi là kẻ tâm thần. Tuy nhiên, thật ngạc nhiên là số người hiểu đầy đủ về bản chất của tư duy để nằm ở thái cực bên kia thậm chí còn ít hơn. Hầu hết chúng ta đều không hiểu rằng chúng ta là chủ nhân của những suy nghĩ của chính chúng ta – chúng ta tự mình tạo ra nó. Có lẽ chỉ một vài lần chúng ta hiểu được điều đó mà thôi. Đầu óc chúng ta sẽ tạo ra vô số ngoại lệ cho nguyên tắc này, và điều đó ngăn cản chúng ta tiếp cận những kiến thức cần thiết để vận dụng nó vào trong cuộc sống. Ví dụ, một ngày nào đó bạn cảm thấy buồn chán và nghĩ rằng: “Mình sẽ chẳng bao giờ hoàn thành được dự án này.” Thay vì tự nói với bản thân “Ôi, mình lại nghĩ thế rồi,” và chấm dứt những suy nghĩ tiêu cực ngay lúc đó, bạn lại tiếp tục nghiền ngẫm. Bạn sẽ nói, “Mình biết ngay từ khi mới bắt đầu mà; lẽ ra không nên bắt tay vào dự án này; mình chưa bao giờ làm tốt những việc thế này và sẽ chẳng bao giờ làm được cả,” v.v… Hiểu rõ về tư duy giúp chúng ta ngăn cản “sự tấn công của suy nghĩ” trước khi chúng đánh gục chúng ta. Hãy coi những kiểu tư duy này như những vệt nhiễu trên màn hình ti vi. Nghiên cứu và phân tích vệt nhiễu sóng trên màn hình chẳng có giá trị gì hết, và việc nghiền ngẫm sự nhiễu sóng trong tư duy của chúng ta cũng vậy. Nếu không hiểu biết đầy đủ về tư duy, một chút nhiễu sóng dù là nhỏ nhất cũng lớn dần đến mức có thể hủy hoại cả một ngày, thậm chí là cả một đời. Khi coi những suy nghĩ tiêu cực là nhiễu sóng màn hình, bạn có thể vứt bỏ chúng khi chúng không còn phục vụ cho nhu cầu của mình nữa. Trong ví dụ nêu trên, những suy nghĩ tiêu cực về khả năng hoàn thành một dự án rõ ràng không thể giúp bạn hoàn thành nó được.

Chúng ta ai cũng đều tạo ra một dòng suy nghĩ liên tục suốt 24 giờ trong ngày. Khi một suy nghĩ nào đó bị lãng quên, nó sẽ biến mất, nhưng lại trở về khi chúng ta tiếp tục nghĩ về nó. Nhưng dù trong tình huống nào thì đó cũng chỉ là một suy nghĩ mà thôi. Trên thực tế, điều này có ý rằng nghĩ về thứ gì đó không có nghĩa là chúng ta quá coi trọng chúng đến mức phản ứng lại một cách tiêu cực. Hãy lựa chọn một vài ý nghĩ mà bạn mong muốn phản ứng lại.

Hầu hết chúng ta đều biết cách áp dụng nguyên tắc này lên người khác, nhưng lại không biết áp dụng nó cho mình. Xét trường hợp một người lái xe nổi nóng khi đang lái xe trên đường cao tốc. Một chiếc xe khác lao ra ngáng đường anh ta và suýt gây tai nạn. Một suy nghĩ thoáng xuất hiện trong đầu anh ta: “Mình muốn bắn chết gã nào lái chiếc xe đó!” Đó chỉ là một suy nghĩ thoáng qua. Hầu hết chúng ta đều bỏ qua và cho rằng đó là một suy nghĩ ngớ ngẩn. Tất cả chúng ta đều muốn người lái xe đó cẩn trọng hơn, chứ không ai muốn hiện thực hóa ý nghĩ đầy bạo lực của mình. Tuy nhiên, một người tâm thần không dễ dàng bỏ qua suy nghĩ của mình. Anh ta nhiệt thành tin rằng bất cứ suy nghĩ nào xuất hiện trong đầu cũng là hiện thực và cần phải nghiêm túc với chúng.

Chúng ta có thể thông cảm (nếu không phải là cười vào mặt) những kẻ ngốc nào nghiêm trọng hóa những suy nghĩ như vậy, nhưng tất cả chúng ta đều làm điều tương tự hàng trăm lần mỗi ngày, chỉ là ở dạng thức khác và mức độ khác mà thôi. Mỗi chúng ta, theo cách riêng của mình, đều nhầm lẫn giữa suy nghĩ và hiện thực. Ta dễ dàng nhận ra ý nghĩ của người khác chỉ “đơn thuần là ý nghĩ” (như trong trường hợp của người lái xe trên đường cao tốc kia), nhưng dường như lại không thể tự coi ý nghĩ của bản thân theo hướng tương tự. Và tại sao những suy nghĩ của chúng ta lại có vẻ thật đến vậy? Bởi chính ta là người tạo ra chúng.

Không nhất thiết lúc nào cũng phải nghiêm trọng hóa những suy nghĩ của bản thân.

Đối với một người, ý nghĩ rằng: “Không biết cô ấy có thích mình không nhỉ, chắc là không rồi,” có thể khiến anh ta buồn bực. Nhưng anh ta vẫn nhận ra rằng người lái xe trên đường cao tốc chỉ “đang nghĩ như vậy mà thôi”. Hầu hết chúng ta tin rằng nếu ta suy nghĩ điều gì thì nó đáng được chú ý và quan tâm thực sự, nhưng với suy nghĩ của người khác, ta dễ dàng nhận ra đó chỉ là một ý nghĩ không đáng quan tâm. Tại sao lại như vậy? Một lần nữa, lý do bởi tư duy là điều định hình nên hiện thực của chúng ta từ bên trong. Do nó quá gần gũi đến mức chúng ta quên mất chính mình là người tạo ra nó. Tư duy giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của những gì ta nhìn thấy – chúng ta cần nó để sống trong thế giới này và hiểu được ý nghĩa của cuộc sống. Tuy nhiên, khi hiểu được bản chất thực sự và mục đích của tư duy, ta không cần quá coi trọng (hoặc quá nghiêm trọng) bất cứ điều gì ta bất chợt nghĩ đến; và như thế cảm giác sẽ nhẹ nhõm hơn.

Tư duy của chúng ta không phải là “hiện thực”, mà chỉ là nỗ lực nhằm giải thích một tình huống nhất định mà thôi. Cách chúng ta giải thích những gì ta nhìn thấy tạo ra một phản ứng về mặt cảm xúc. Phản ứng đó không phải là sản phẩm của những gì xảy đến với chúng ta, mà được tạo ra từ tư duy, từ hệ thống niềm tin của con người.

Minh họa điều này là ví dụ về một gánh xiếc đến thị trấn biểu diễn. Đối với những người và gia đình yêu xiếc, đây là một dịp lớn để chào mừng. Còn với những người không thích xiếc thì việc giao thông ùn tắc và sự lộn xộn lại khiến họ khó chịu. Bản thân gánh xiếc là trung lập – nó không phải là nguyên do của những phản ứng tích cực hay tiêu cực. Chúng ta có thể tự nghĩ ra nhiều ví dụ tương tự khác. Một khi hiểu được khái niệm này, những suy nghĩ của chúng ta có thể là một món quà tuyệt vời và giúp đỡ chúng ta trong cuộc sống. Ngược lại, chúng ta có thể trở thành nạn nhân của những suy nghĩ của mình và chất lượng cuộc sống của chúng ta cũng vì thế mà giảm sút. Do suy nghĩ của chúng ta mỗi lúc lại thay đổi, nên cuộc sống trở thành một cuộc chiến, nếu không muốn nói là một chiến trường.

Mức độ hạnh phúc của chúng ta dường như thăng giáng cùng hoàn cảnh. Thực tế, không phải hoàn cảnh mà chính cách lý giải chúng của chúng ta mới quyết định mức độ hạnh phúc của mỗi người. Đây là lý do tại sao những hoàn cảnh giống nhau lại có thể mang ý nghĩa khác hẳn đối với mỗi người. Học cách nhìn nhận những suy nghĩ tiêu cực như một dạng nhiễu sóng thần kinh, bạn sẽ không còn quan tâm quá mức đến chúng nữa.

Hiểu được bản chất của tư duy giúp chúng ta sống trong trạng thái nghỉ ngơi, trạng thái trung lập, với cảm giác tích cực, hạnh phúc và mãn nguyện vô ưu. Khi chúng ta ngừng suy nghĩ về những điều chúng ta đang nghĩ đến, đặc biệt là những suy nghĩ tiêu cực, thì cảm giác dễ chịu, thoải mái sẽ ở lại với chúng ta. Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta không cần suy nghĩ – chắc chắn là có. Nó chỉ ra rằng tư duy tiêu cực – những ý nghĩ gây phiền não và bất hạnh – không đáng để chúng ta dằn vặt, bởi chúng lấy đi thứ chúng ta tìm kiếm: hạnh phúc. Sự hài lòng tạo ra khoảng trống cần thiết trong tâm hồn để những suy nghĩ mới mẻ, sáng tạo nảy sinh, cho phép chúng ta thư thái đầu óc như con trẻ để mang đến những điều kỳ diệu và bất ngờ trong cuộc sống.

Đầu óc thư thái còn giúp chúng ta lắng nghe mọi người một cách tình cảm. Nó cho phép ta lắng nghe cả những lời chỉ trích mà không cảm thấy khó chịu, bởi ta không còn phân tích chúng nữa – ta chỉ đơn giản tiếp nhận thông tin mà thôi.

Tóm lại, mối quan hệ giữa bạn với những suy nghĩ của chính mình sẽ quyết định sức khỏe tinh thần và mức độ hạnh phúc của bạn. Bạn có tin rằng vì bạn nghĩ về thứ gì đó, nên chắc chắn nó phải là việc nghiêm túc không? Hay bạn hiểu rằng suy nghĩ là việc bạn làm bằng bản năng, và bạn không được nhầm lẫn giữa tư duy và hiện thực? Bạn có thể suy nghĩ rồi để những ý nghĩ trôi đi và thư thái đầu óc, hay cảm thấy buộc phải nghiền ngẫm hay phân tích chúng?

Laura và Steve

Laura đang lái xe đến gặp bạn trai cô là Steve. Trên đường, cô nghe tin tức trên radio về số lượng các cuộc hôn nhân kết thúc bằng việc ly hôn. Cô bắt đầu nghĩ: “Không biết mình và Steve có kết hôn không nhỉ. Cuộc hôn nhân của bọn mình liệu có tốt đẹp không? Steve có rất nhiều nét tính cách giống người cha từng ly hôn của anh ấy. Steve thường trễ hẹn và làm việc quá chăm chỉ. Không biết đối với anh ấy, mình có quan trọng bằng công việc không đây? Rồi còn con cái nữa, liệu chúng có quan trọng hơn công việc của anh ấy không?” Và Laura bắt đầu đăm chiêu suy nghĩ.

Suy nghĩ của Laura tự động xuất hiện. Chúng diễn ra chỉ trong chốc lát. Hãy so sánh tác động của chúng lên tư duy của Laura, trên nền tảng mối quan hệ tình cảm của cô ấy. Đầu tiên, cứ cho rằng Laura (giống như hầu hết mọi người) tin rằng nếu điều gì đó nảy ra trong đầu thì nó đáng được chú ý và nhìn nhận nghiêm túc. Laura không hề nhận thức rằng cô đang tạo ra suy nghĩ, mà cho rằng những suy nghĩ của mình ắt phải là xác đáng. Giờ cô cảm thấy thực sự lo lắng về mối quan hệ của mình với bạn trai, và quyết định đem vấn đề nói với Steve. Cô lái xe trong nỗi lo âu trên suốt quãng đường còn lại.

Giờ hãy xem xét một khả năng khác. Theo đó, Laura hiểu được những suy nghĩ tạo ra trải nghiệm của cô trong cuộc sống như thế nào. Vẫn là những ý nghĩ đó thoáng qua đầu Laura, và trong chốc lát, cô bắt đầu cảm nhận được tác động tiêu cực của chúng. Rồi Laura nhận ra rằng không phải Steve mà chính những suy nghĩ của cô mới khiến cô lo lắng về mối quan hệ giữa hai người. Cho đến giờ phút này, mối quan hệ giữa họ vẫn hoàn toàn ổn. Vài giây trước đó, trước khi nghe thấy bản tin, Laura vẫn nghĩ rằng mọi chuyện đều tốt đẹp – cô ở trong tâm trạng tốt đẹp đó khi chỉ nghĩ về chúng chứ không nghiền ngẫm, phân tích chúng. Laura bật cười và thầm ơn trời vì cô không còn là nạn nhân của chính những suy nghĩ của mình nữa. Laura đã biết nhìn nhận sự việc một cách nhẹ nhàng hơn và xóa tan những suy nghĩ đó. Cô tiếp tục vừa lái xe vừa nghe những bản nhạc yêu thích trong niềm hạnh phúc.

Lựa chọn phản ứng trước tư duy

Hầu hết chúng ta đều cho rằng nếu một điều gì đó bỗng nhiên xuất hiện trong đầu thì ắt phải có lý do; chắc hẳn nó phải diễn tả thực tại, đáng được chúng ta quan tâm và giải quyết. Tuy nhiên, nếu hiểu được nguyên tắc của tư duy, chúng ta biết rằng điều đó là sai lầm về mặt tinh thần. Nếu một ý nghĩ xuất hiện trong đầu, hãy hiểu bản chất của nó – rằng đó chỉ là một ý nghĩ thoáng qua. Điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể hay không nên suy xét hoặc hành động trước những suy nghĩ đó, mà hãy đưa ra lựa chọn. Mỗi ngày có hàng nghìn ý nghĩ xuất hiện trong đầu chúng ta; và theo nguyên tắc tư duy, chẳng cái nào quan trọng hơn cái nào, chúng chỉ là ý nghĩ mà thôi. Một khi hiểu được nguyên tắc này, những gì ta suy nghĩ sẽ không còn sức mạnh quyết định toàn bộ chất lượng cuộc sống của chúng ta nữa. Thay vào đó, chúng ta có thể lựa chọn một trạng thái cảm xúc dễ chịu hơn từ việc suy nghĩ thoải mái, nhẹ nhàng hơn.

Lý do khiến chúng ta có thể xem một bộ phim buồn, thậm chí là phim kinh dị, rồi sau đó vẫn ra ngoài ăn uống bình thường là vì chúng ta luôn thoát ra được khỏi bộ phim. Ta hiểu rằng đó chỉ là phim ảnh. Bộ phim kết thúc là hết, còn chúng ta vẫn phải tiếp tục với cuộc sống của mình. Với tư duy cũng vậy. Nó chỉ nằm trong đầu óc con người. Nếu một suy nghĩ nào đó ra khỏi đầu, nó sẽ biến mất – cho đến khi chúng ta lại nghĩ về nó. Suy nghĩ chẳng có gì đáng sợ cả, nếu ta hiểu được rằng suy nghĩ chỉ là suy nghĩ.

Có lẽ nguyên tắc này bị hiểu sai nghiêm trọng nhất ở chỗ người ta tin rằng mục đích của nó là kiểm soát những gì bạn nghĩ. Không phải như vậy. Mục tiêu của nó là hiểu được tư duy là gì: một khả năng giúp bạn định hình thực tại từ trong ra ngoài. Không hơn không kém. Chất lượng cuộc sống của bạn không được quyết định bởi những gì bạn nghĩ, mà là mối quan hệ giữa bạn với những suy nghĩ của chính mình – cách bạn tạo ra chúng và phản ứng lại chúng.

Như một giấc mơ

Rất bình thường khi bạn thức dậy vào buổi sáng và thốt nên: “Ôi, giấc mơ đó mới thật làm sao!”. Nhưng dù giấc mơ có vẻ thật đến thế nào thì chúng ta đều biết đó chỉ là một giấc mơ. Vì thế, nếu mơ thấy mình đem xe ra tiệm sửa và anh thợ máy lại khiến cho nó hỏng nặng hơn, thì ta cũng không ra đó để phàn nàn. Chúng ta hiểu rằng giấc mơ chỉ là suy nghĩ khi ta đang ngủ. Kiến thức này có vẻ vẫn hoàn toàn đúng đắn khi áp dụng vào những suy nghĩ khi ta đang thức, và khi nó diễn ra, ta không phải coi đó là sự thật.

Hai khía cạnh của tư duy

Có hai khía cạnh của tư duy mà chúng ta cần phải hiểu. Đầu tiên là thực tế mà chúng ta nghĩ, chúng ta có chức năng này của con người – không phải những gì ta nghĩ (nội dung) mà chính nhận thức rằng ta là người tạo ra suy nghĩ mới liên tục xuất hiện trong đầu chúng ta. Khía cạnh thứ hai vẫn thường được thảo luận là nội dung, hay còn gọi là những điều chúng ta nghĩ đến. Giữa hai khía cạnh trên có một sự khác biệt lớn. Người theo hướng tư duy tích cực cho rằng suy nghĩ tích cực càng nhiều càng tốt và cũng là cách tránh suy nghĩ tiêu cực. Đúng là tư duy tích cực làm bạn cảm thấy dễ chịu hơn suy nghĩ tiêu cực, nhưng tư duy tích cực là một khái niệm sai lầm khi dựa trên giả định rằng tự thân suy nghĩ đã mang trong mình sự thật và chúng ta cần phải quan tâm đến nó. Nhưng dù là tích cực hay tiêu cực thì tư duy cũng chỉ là một chức năng.

Khi hiểu được ý nghĩa đích thực của tư duy, chúng ta sẽ hiểu rõ suy nghĩ tích cực và tiêu cực. Một người tư duy tích cực liên tục chịu áp lực là chỉ được tạo ra suy nghĩ tích cực. Việc này tốn rất nhiều nỗ lực và sự tập trung, do đó nó tiêu thụ hết năng lượng dành cho những ý tưởng mới và sáng tạo. Mỗi khi suy nghĩ tiêu cực xuất hiện trong đầu (chắc chắn sẽ như vậy), một người tư duy tích cực phải phủ nhận sự tồn tại của chúng và lấy những suy nghĩ tích cực dìm chúng xuống.

Những người hiểu được bản chất của tư duy không phải chịu áp lực tạo ra bất kỳ nội dung cụ thể nào cho suy nghĩ của mình. Họ hiểu được bản chất của tư duy: một chức năng của nhận thức, một khả năng chủ động của con người định hình nên kinh nghiệm của chúng ta trong cuộc sống. Liệu điều đó có nghĩa là những ai hiểu được tư duy là một chức năng sẽ cố tình suy nghĩ tiêu cực không? Tất nhiên là không. Điều đó cũng không có nghĩa là suy nghĩ tiêu cực không bao giờ xuất hiện trong đầu họ. Đơn giản là họ hiểu bản thân những suy nghĩ tiêu cực đó chẳng làm hại gì họ được. Đối với họ, ý nghĩ dù là tích cực hay tiêu cực cũng chỉ là ý nghĩ mà thôi.

Câu chuyện của Stacey

Tư duy với tư cách một chức năng thuần túy của ý thức không hề có nội dung, cho đến khi chúng ta đưa nội dung vào. Niềm tin, ý tưởng cho cuộc sống, những giả định nền tảng, và quan điểm sẽ quyết định nội dung chúng ta đưa vào suy nghĩ, nhưng bản thân suy nghĩ là vô hại, và là một khái niệm rỗng cho đến khi chúng ta lấp đầy nó bằng ý nghĩa. Chẳng hạn như khi Stacey còn bé, bố mẹ cô thuê một người giúp việc để trông nom cô. Khi Stacey lớn lên, cô tin rằng yếu tố quan trọng nhất để trở thành những bậc cha mẹ tốt là dành càng nhiều thời gian bên con cái càng tốt. Một ngày nọ khi Stacey nhớ về cha mẹ, một ý nghĩ nảy ra trong đầu cô, rằng cha mẹ cô không quan tâm nhiều tới cô. Họ còn thuê một người giúp việc chăm nom cô nữa. Tại sao họ không muốn tự mình chăm sóc cô? Có lẽ họ không quan tâm đến cô nhiều như họ vẫn nói.

Nhưng làm sao Stacey biết được điều đó? Cô kết luận như vậy dựa trên cái gì? Ai đã đưa nội dung “làm cha mẹ” vào trong suy nghĩ của Stacey? Chính cô ấy. Một suy nghĩ về cha mẹ cô xuất hiện trong đầu – ban đầu là một suy nghĩ đơn giản, nhưng sau đó cô đã thêm vào nội dung: “Có lẽ bố mẹ không quan tâm đến mình nhiều như mình vẫn tưởng.” Cho dù Stacey có mối quan hệ vô cùng tốt đẹp với cha mẹ, nhưng suy nghĩ đó vẫn xuất hiện trong đầu cô. Nếu cô nghiêm trọng hóa suy nghĩ đó và theo đuổi nó, chắc chắn nó sẽ làm cho cô sa sút tinh thần. Stacey có thể thảo luận điều này với bạn bè cô, chồng cô, hoặc nếu thấy nó thực sự quan trọng, cô có thể nói với cha mẹ để hiểu rõ vấn đề. Thực tế, các nhà tâm lý học nổi tiếng sẽ bảo cô làm vậy – phân tích những số liệu, sau đó hành động dựa trên đó. Ý tưởng trút bỏ những điều phiền muộn đè nặng và bộc lộ cảm xúc của bản thân thường được cho là ý kiến hay, nhưng liệu có phải lúc nào cũng vậy không? Nếu Stacey hiểu cảm giác của cô thực sự đến từ đâu, thì liệu cô có đem chuyện này ra nói với cha mẹ mình không?

Tất cả những nỗi đau buồn này là hệ quả của việc hiểu sai bản chất của tư duy. Thay vì coi suy nghĩ chỉ là một việc cô vẫn thường làm, Stacey lại quá quan trọng hóa những suy nghĩ của mình. Nếu Stacey sắp xếp lại những chuyện đang diễn ra, cô đã có thể loại bỏ khỏi đầu những suy nghĩ tiêu cực về việc cô được nuôi nấng như thế nào, từ đó duy trì cảm giác tích cực và cảm thấy an toàn trong cuộc sống.

Câu chuyện về Stacey và người giúp việc sẽ tiếp tục xuất hiện trong ba chương tiếp theo, minh họa cho năm nguyên tắc trên hoạt động với nhau như thế nào để tạo ra cuộc sống hạnh phúc.

Hệ tư tưởng

Tất cả những suy nghĩ của chúng ta trong quá khứ có thể được nhóm lại thành “hệ tư tưởng”, một đơn vị độc lập mà qua đó, chúng ta nhìn ra thế giới. Mọi quyết định, phản ứng và cách hiểu của chúng ta đều được “tô màu” bởi hệ tư tưởng riêng của mỗi người.

Hệ tư tưởng của chúng ta giống như một chiếc phễu lọc mà mọi thông tin phải đi qua đó trước khi đến với nhận thức của con người. Đó là những ý tưởng được đan dệt một cách phức tạp và hoàn hảo, chúng liên kết với nhau tạo thành các khái niệm, niềm tin, kỳ vọng và quan điểm. Chính hệ tư tưởng riêng của mỗi người cho phép ta so sánh các sự việc, hiện tượng mới hoặc các tình huống ta đã biết từ trải nghiệm trong quá khứ.

Hệ tư tưởng của bạn chứa đựng tất cả những thông tin bạn thu nhận được trong suốt cuộc đời. Đó là những thông tin trong quá khứ mà hệ tư tưởng của bạn dùng để giải thích ý nghĩa của mọi việc diễn ra trong cuộc sống. Theo đó, một hệ tư tưởng là nguồn gốc của tư duy có điều kiện. Khi bạn dựa vào nó nghĩa là bạn đang suy nghĩ theo thói quen, theo cách nhìn sự vật hiện tượng thông thường của bản thân. Đây chính là nơi hình thành những phản ứng theo thói quen của bạn trước cuộc sống.

Hệ tư tưởng chứa đựng quan điểm của mỗi người về “cuộc sống”. Chúng là những cơ chế tâm lý giúp ta nhận ra khi nào chúng ta hiểu hoặc đánh giá đúng một vấn đề. Hệ tư tưởng về bản chất là khó thay đổi và không ưa bị can thiệp. Chúng hoàn toàn mang tính “tự xác nhận”. Nếu hệ tư tưởng của bạn chứa đựng ý tưởng rằng những ngôi trường của nước mình thật tồi tệ và đó là nguyên nhân của hầu hết các vấn đề khó khăn của đất nước, thì viễn cảnh sau đây có thể xảy ra: Bạn đọc một tờ báo buổi tối và tình cờ nhìn thấy một bài ở gần cuối trang ba mươi sáu, trong đó viết: “Trong quận có hai mươi mốt học sinh thi trượt môn đọc.” Bạn mỉm cười, bạn lại được chứng minh đã đúng thêm lần nữa. Bạn đưa bài báo cho chồng hoặc vợ của mình: “Anh/em thấy không, trường học ở nước ta đang ngày càng tồi tệ, hệt như những gì anh/em đã nói.” Bạn không hề để ý rằng ngay trang nhất của tờ báo có dòng tít: “ĐIỂM KIỂM TRA TRÊN TOÀN QUỐC TĂNG 17% TRONG VÒNG NĂM NĂM QUA!” Nhưng đó là bản chất của hệ tư tưởng. Với cách bám rễ trong đầu óc chúng ta, dường như luôn có một mối liên hệ logic giữa những thứ chúng ta coi là đúng đắn. Niềm tin của chúng ta luôn đem lại ý nghĩa tuyệt vời trong hệ tư tưởng của mỗi người.

Hệ tư tưởng cá nhân khiến chúng ta tin rằng chúng ta là những người thực tế, và rằng cách chúng ta nhìn nhận cuộc sống cũng chính là cách cuộc sống diễn ra. Thực tế là một người coi một tình huống như một cơ hội, trong khi người khác với trí tuệ tương đương lại coi đó là một rắc rối lớn không ảnh hưởng gì đến hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng của chúng ta loại bỏ những quan điểm khác cho là sai lệch, hoặc những quan điểm có chủ đích tốt nhưng sai trái, hoặc không đúng lắm.

Bởi hệ tư tưởng của chúng ta chứa đầy những kỷ niệm trong quá khứ và thông tin đã tiếp nhận trong cuộc sống, nên chúng khuyến khích chúng ta tiếp tục nhìn nhận sự việc theo hướng như vậy. Chúng ta phản ứng tiêu cực (hoặc tích cực) với những sự kiện hay tình huống tương tự hết lần này qua lần khác, giải thích những trải nghiệm hiện tại trong cuộc sống bằng những kinh nghiệm trong quá khứ. Một người tin rằng con người vốn đã hay chỉ trích thì sẽ trở nên đề phòng bất cứ khi nào có người đưa ra gợi ý, mà không cần biết người đó có ý chỉ trích hay không. Điều đó sẽ trở thành một đề tài trong cuộc sống của anh ta cho đến tận khi anh ta hiểu được bản chất của hệ tư tưởng, đặc biệt là hệ tư tưởng của chính mình. Hiểu được khái niệm này sẽ giúp anh ta nhận ra rằng mình đang không nhìn vào hiện thực hay sự thật, mà chỉ nhìn vào cách giải thích hiện thực thông qua suy nghĩ của chính mình.

Bởi hệ tư tưởng của chúng ta quá quen thuộc, nên dường như chúng luôn cho ta những thông tin đúng và chính xác. Chính vì phương diện tự xác nhận của hệ tư tưởng mà chúng ta chấp nhận những ý tưởng quen thuộc và không quan tâm đến những thứ còn lại. Đây là lý do tại sao mọi người hiếm khi thay đổi quan điểm chính trị hoặc tôn giáo của mình, và tại sao họ ngần ngại thảo luận chúng với gia đình hay bè bạn. Họ “biết sự thật” và có thể đưa ra những ví dụ và lý lẽ bảo vệ cho ý kiến của mình. Họ cũng “biết” rằng gia đình, bạn bè họ “không hiểu sự thật,” và vì họ cứng đầu cứng cổ nên có lẽ họ sẽ không bao giờ hiểu được. Chúng ta cũng biết kết quả của việc đối đầu giữa các hệ tư tưởng khác nhau – thường là tất cả các bên đều thất vọng. Đó là lý do tại sao mọi người thường bị thu hút bởi những người có chung đức tin, và trở nên mất kiên nhẫn với những ai không nghĩ giống họ.

Hiểu được bản chất của hệ tư tưởng sẽ có thể thay đổi được điều này. Khi ta hiểu rằng những người khác (và chính bản thân ta) ngây thơ tưởng niềm tin là hiện thực, chúng ta có thể bỏ qua nhu cầu chứng tỏ mình là đúng. Ta có thể thấy rằng niềm tin của chúng ta chỉ đơn giản là một chức năng của phản ứng có điều kiện và kinh nghiệm trong quá khứ. Vì quá khứ của mỗi người khác nhau nên ý tưởng của chúng ta về cuộc sống cũng khác nhau. Niềm tin của mọi người cũng là kết quả của những kinh nghiệm trong quá khứ. Nếu mọi thứ khác đi thì một hệ tín ngưỡng khác sẽ hình thành.

“Điều này có thể đúng,” bạn nói, “nhưng cách nhìn cuộc sống của tôi rất tốt, tôi thấy nó chính xác và sẽ không thay đổi nó, ngay cả khi có thể.” Vấn đề ở đây không phải là thay đổi hệ tư tưởng hay quan niệm của bạn về cuộc sống, mà là hiểu được bản chất độc đoán của chúng. Ta chỉ cần nhìn nhận thực tế về hệ tư tưởng, chứ không can thiệp vào nội dung, để giảm bớt nỗi thất vọng trong cuộc sống. Nếu không hiểu về hệ tư tưởng, ta hầu như không thể lắng nghe các quan điểm khác. Chúng ta diễn giải những gì người khác nói và hành động dựa trên những gì chúng ta đã biết. Thông tin truyền đến, và ta dựa trên những kiến thức sẵn có để quyết định xem thông tin đó có đúng hay không. Nếu thông tin đó không được chúng ta đồng ý từ trước thì hệ tư tưởng của chúng ta sẽ có xu hướng từ chối nó. Tóm lại, thông tin mới thường không được chào đón trong hệ tư tưởng sẵn có của mỗi người. Đó là lý do tại sao chúng ta buồn phiền vì những sự kiện và tình huống tương tự hết lần này đến lần khác trong đời. Chúng ta đã phát triển những mối quan hệ nhân quả lặp đi lặp lại giữa các sự kiện và phản ứng.

Ví dụ, bạn có thể tin rằng bất cứ khi nào ai đó đưa ra cho bạn một gợi ý nghĩa là bản thân họ không đồng tình với bạn. Bạn hoàn toàn không nghi ngờ điều này vì hệ tư tưởng của bạn tự đánh giá nó. Đó dường như luôn là một kết luận đúng và chính xác về bản chất của con người. Ngay cả khi ai đó đảm bảo với bạn rằng giả định của bạn là sai, bạn vẫn tự thuyết phục mình rằng những người khác đang có động cơ không minh bạch, hoặc họ không nhận ra thái độ thù địch của họ đối với bạn. Dù mất bao lâu chăng nữa, bạn cũng sẽ tìm được cách xác minh niềm tin vốn có để chứng tỏ mình đúng, ngay cả khi phải trả giá bằng việc khiến bản thân đau khổ.

Nhưng nếu hiểu được bản chất của các hệ tư tưởng, bạn có thể bắt đầu nhìn xa hơn, và cảm nhận được giá trị của các quan điểm khác nhau. Những gì chúng ta thường coi là chỉ trích giờ chỉ là ý kiến của một người, nằm trong một hệ tư tưởng của riêng họ. Chúng ta hầu như có thể loại bỏ những lập luận không đem lại giá trị gì trong cuộc sống và hoàn toàn loại bỏ cảm giác tiếc nuối, bối rối hay giận dữ với những người không nhìn sự việc theo cách của chúng ta.

Bob và Carol –Ted và Alice

“Cặp đôi A,” Bob và Carol, hiểu biết về hệ tư tưởng, còn “Cặp đôi B,” Ted và Alice thì không.

Cặp đôi A, Bob và Carol, có một con nhỏ mà hai vợ chồng đều hết mực yêu thương. Bob, trong nỗ lực chân thành muốn gánh vác trách nhiệm cùng vợ, đã đề xuất việc xin nghỉ phép để đưa con của họ đến khám bác sĩ. Bob không coi đây là phần vui vẻ nhất trong việc nuôi dạy con cái, nhưng dù sao anh cũng đề nghị được làm điều đó. Nhưng Carol lại cho rằng việc đưa con đi khám là điều quan trọng thể hiện tình yêu thương của cô với con, nên rất cảm động trước lời đề nghị giúp đỡ của chồng; cô cảm ơn anh nhưng từ chối lời đề nghị đó. Cô biết hệ tư tưởng của hai vợ chồng khác nhau về cách thức đề nghị giúp đỡ. Quan trọng hơn, Carol hiểu rằng cô có một hệ tư tưởng riêng, với những nhu cầu, niềm tin và mong mỏi của một người mẹ. Cô bình tĩnh quyết định rằng mình sẽ tự làm việc đó.

Cặp đôi B có hoàn cảnh tương tự, nhưng hiểu biết của họ hạn chế hơn. Ted cũng quan tâm đến con giống như Bob và đưa ra đề xuất tương tự. Nhưng Alice không hiểu gì về hệ tư tưởng. Đối với cô, một đề xuất như thế đồng nghĩa với việc anh bảo cô không phải là một người mẹ tốt. Cô sẽ không bao giờ đề nghị điều đó với bạn bè (trừ trường hợp khẩn cấp) bởi cô “biết” rằng đưa con đi tiêm là trách nhiệm của một người mẹ. Cô đáp lại chồng bằng việc buộc tội anh không tôn trọng kỹ năng làm mẹ của cô. Và bởi Ted cũng chẳng hiểu về hệ tư tưởng hơn vợ, nên anh nghĩ Alice là người “vô ơn”. Một trận tranh cãi nảy ra và kết cục là cả hai vợ chồng đều cảm thấy khó chịu suốt mấy ngày sau đó. Đây chỉ là một ví dụ về những tranh cãi điển hình có thể xảy ra khi chúng ta thiếu hiểu biết về hệ tư tưởng.

Nếu Ted hoặc Alice hiểu được điều này thì cuộc cãi vã đã không xảy ra. Người vợ sẽ nghe lời đề nghị của người chồng, sau đó dù cảm thấy thế nào thì cô vẫn nói: “Không cần đâu, cảm ơn anh. Em muốn tự đi,” hoặc một câu gì đó tương tự. Nếu Ted hiểu về hệ tư tưởng, anh sẽ xóa tan mọi vấn đề khi nhận ra phản ứng của Alice chỉ là một chức năng trong hệ tư tưởng của cô. Ted đã có thể giải thích mong muốn giúp đỡ vợ theo một cách cởi mở và âu yếm hơn. Ngay cả khi Alice không phản ứng lại trước giải thích đầy yêu thương của anh thì anh cũng không cảm thấy bị xúc phạm đến vậy khi nghe cô chỉ trích. Thay vào đó, anh sẽ nhận ra rằng vấn đề nằm ở chỗ hai hệ tư tưởng đang “đối đầu” nhau. Hai hệ tư tưởng không thể tìm được tiếng nói chung, giống như hai người nói hai ngôn ngữ khác nhau thì không thể hiểu nhau khi không có người phiên dịch.

Thú vị ở chỗ, Carol cũng cảm thấy giống hệt như Alice, rằng mình phải là người đưa con đi bác sĩ. Nhưng cách ứng xử của họ khác nhau không phải vì quan điểm của họ trước sự việc khác nhau, mà là do hiểu biết của mỗi người. Carol biết rằng quan điểm của cô đến từ hệ tư tưởng của bản thân, nhưng Alice lại tin rằng quan điểm của cô xuất phát từ việc làm mẹ. Cô tin rằng có một số nhiệm vụ cố hữu mà một người mẹ thương con nên làm quan trọng hơn các nhiệm vụ khác, và cô cho rằng đề nghị được chia sẻ trách nhiệm của chồng là sự chỉ trích kỹ năng nuôi dạy con cái của cô.

Khi hiểu được hệ tư tưởng vận hành như thế nào, chúng ta có thể tránh được những cuộc tranh luận không cần thiết và mối bất hạnh nó gây ra.

Trích dẫn

Đang cập nhật..

Thể loại

Những cuốn sách giúp bạn giải tỏa stress và cân bằng cuộc sống - Cuộc sống với bao bộn bề, lo âu, căng thẳng, áp lực của công việc, học tập và gia đình; con người dễ rơi vào tâm trạng stress. Stress không phải là một loại bệnh nhưng nếu không biết cách khắc phục nó, nó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe… Đọc thêm

Nơi bán

 

FREESHIP cho đơn hàng từ 99k tại TP.HCM và Hà Nội, từ 149k tại các tỉnh thành khác. Nhận hàng ngay chỉ trong vài giờ với gói TIKINOW tại TP.HCM, HN, Cần Thơ, Đà Nẵng, Nha Trang, Hải Phòng, giảm ít nhất 15% cho nhiều đầu sách bán chạy

Tới nơi bán

 

FREESHIP cho đơn hàng từ 140k tại TP.HCM và Hà Nội, từ 250k tại các tỉnh thành khác, giảm ít nhất 15% cho nhiều đầu sách bán chạy.

Tới nơi bán

 

FREESHIP cho đơn hàng từ 150k tại TP.HCM và Hà Nội, từ 250k tại các tỉnh thành khác, giảm ít nhất 15% cho nhiều đầu sách bán chạy.

TỚI NƠI BÁN

1 đánh giá cho Hạnh Phúc Bằng Bất Cứ Giá Nào

  1. Boo Bi

    Chủ đề của cuốn sách rất hay, tên gọi cũng rất hấp dẫn, sách được đánh giá cao tuy nhiên khi mình đọc lại thấy hơi khó hiểu, không biết có phải lúc đọc mình suy nghĩ không được kĩ hay không dmà mình lại có cảm giác như vậy. Nhưng dù sao mình cũng thực sự hứng thú với cuốn sách này và có cảm giác sẽ nhận ra được nhiều điều nếu suy ngẫm và hiểu được lời tác giả. Nội dung của sách ngắn gọn, súc tích chứa nhiều điều cần suy ngẫm chứ không phải đọc lướt qua là được. Chắc chắn mình sẽ đọc lại cuốn sách này thêm nữa để hiểu được nội dung cuốn sách.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
Close