Khuyến Học

3.29 trên 5 dựa trên 7 đánh giá
(7 đánh giá của khách hàng)

Fukuzawa Yukichi, người được mệnh danh là “Voltaire của đất nước mặt trời mọc”, là một trong những nhà tư tưởng khai sáng vĩ đại nhất của Nhật Bản. Những quan điểm giáo dục mang tính cách mạng của ông không chỉ có sức ảnh hưởng lớn đến phong trào khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, mà còn mở đường cho sự phát triển đầy ngoạn mục của quốc đảo Đông Á này. Trong bài viết này, chúng tôi tiến hành phân tích những tư tưởng giáo dục khai sáng của Fukuzama Yukichi trong tác phẩm “Khuyến học” của ông, xem đó như là một trong những nguồn mạch quan trọng của quá trình “văn minh khai hóa” mà người Nhật đã thực hiện. Xa hơn nữa, nghiên cứu tư tưởng giáo dục khai sáng của Fukuzama Yukichi trong “Khuyến học” còn gợi mở những ý tưởng thiết thực cho quá trình cải cách giáo dục ở Việt Nam hiện nay.

Khuyến học không phải là tác phẩm đồ sộ và sâu sắc nhất của ông nhưng lại là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến công chúng Nhật Bản. Khi mới đựơc in lần đầu, cuốn sách này có một số lượng ấn bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số Nhật Bản thời đó chỉ khoảng ba mươi lăm triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu giường của mọi người dân Nhật trong thời kỳ Duy Tân. Kể từ năm 1942 đến năm 2000, riêng nhà xuất bản Iwanami Bunko cũng đã tái bản đến bảy mươi sáu lần.

Trong cuốn sách này, Fukizawa Yukichi đề cập tinh thần cơ bản của con người và mục đích thực thụ của học vấn. Với các chương viết về sự bình đẳng, quyền con người, ý nghĩa của nền văn học mới, trách nhiệm của nhân dân và chính phủ trong một quốc gia pháp trị… khuyến học đã làm lay chuyển tâm lý người Nhật Bản dưới thời Minh Trị. Với tuyên ngôn “trời không tạo ra người đứng trên người và cũng không tạo ra người đứng dưới người”, Fukuzawa Yukichi đã gây kinh ngạc và bàng hoàng – như “không tin vào tai mình” – cho đa số người Nhật Bản vốn bị trói buộc bởi đẳng cấp, thân phận, quen phục tùng phó mặc và e sợ quan quyền suốt hàng trăm năm dưới chính thể phong kiến Mạc phủ. Ông khẳng định mọi người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học vấn.

Về học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và nhấn mạnh Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực tế”. Nền học vấn thực học phải gắn liền với cuộc sống hằng ngày, phải dựa trên tinh thần khoa học, tinh thần độc lập, tính thực dụng. Việc tiếp thu văn minh phương Tây phải có chọn lọc. Quan điểm xuyên suốt cuốn sách là “làm thế nào để bảo vệ nền độc lập Nhật Bản” trong bối cảnh các cường quốc phương Tây đang muốn biến toàn bộ châu Á thành thuộc địa.

Trích đoạn sách hay

Không thể có miếng ăn ngon nếu chỉ là cái “tủ kiến thức”

Từ học vấn có nghĩa rất rộng, vừa trừu tượng vừa cụ thể. Tính trừu tượng (vô hình) trong học vấn thể hiện qua các môn Đạo đức, Thần học, Triết học… Còn các môn như Thiên văn học, Địa lý học, Hoá học… là học vấn mang tính cụ thể (hữu hình). Nhưng dù có trừu tượng hay cụ thể thì mục đích của học vấn là làm cho con người mở mang kiến thức, biết quan sát, lắng nghe, lý giải được đạo lý của sự vật, làm cho con người tự giác về trách nhiệm của bản thân.

Để mở mang kiến thức, để quan sát tiếp thu tốt thì phải lắng nghe ý kiến những người xung quanh, phải đào sâu suy nghĩ, phải đọc nhiều. Vì thế, để có học vấn cần phải biết chữ. Nhưng “chỉ cần biết chữ là có học vấn” như người xưa thường nghĩ là sai lầm lớn. “Biết chữ” mới chỉ là công cụ trên con đường học vấn, cũng giống như cái đục, cái cưa – những công cụ không thể thiếu để cất nhà. Nếu chỉ biết gọi đúng tên những thứ đó, không có tư duy, không biết cách đóng bàn, ghế, giường tủ… thì không thể gọi là thợ mộc được. Cũng như vậy, người biết chữ không thể gọi là người có học vấn nếu người đó không biết lý giải, không hiểu biết đầy đủ đạo lý của sự vật.

Tục ngữ có câu: “Đọc Luận ngữ mà không biết luận ngữ” (không biết ý nghĩa của lời lẽ, ngôn từ). Tức là dù có nhồi nhét đầy tri thức trong đầu, nhưng không thể ứng dụng vào hành động thực tế thì cũng vô nghĩa.

Dù có thuộc làu làu truyện xưa tích cũ nhưng không biết giá một ký gạo, một mớ rau là bao nhiêu.

Dù có hiểu biết cặn kẽ kinh điển Trung Hoa nhưng không biết làm thương mại, không biết giao dịch làm ăn.

Mất nhiều năm gian khổ đèn sách, tiêu tốn bao nhiêu tiền bạc để học hành, trang bị đủ loại kiến thức Âu Tây, nhưng kiếm miếng ăn chỉ nuôi miệng mình cũng không nỗi.

Những người ấy chỉ là “cái tủ kiến thức” suông. Đối với chính miếng cơm của bản thân, đối với lợi ích của đất nước, đối với nền kinh tế của quốc gia, họ hoàn toàn vô dụng, họ chỉ là hạng người “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm”.

Tựa đề của cuốn sách này là “Khuyến học”, nhưng không có nghĩa là tôi khuyên các bạn chỉ có đọc sách.

Đề cập tới tinh thần cơ bản của con người, đề cập tới mục đích thực thụ của học vấn là chủ đích chính mà tôi muốn nói với các bạn.

Tại sao không triệt để vận dụng “bình đẳng”?

Những dòng đầu tiên trong Phần một, tôi đã nói tới vấn đề bình đẳng giữa người và người. Kể từ khi được sinh ra, ai ai cũng được quyền tự do sinh sống, không phân biệt trên dưới.

Tôi muốn bàn rộng hơn ý nghĩa: “Mọi người đều bình đẳng.”

Con người sinh ra là do ý muốn của Trời, chứ không phải là do ý muốn của con người. Con người vốn cùng một loài, cùng sinh sống ở trong trời đất, vì thế yêu thương nhau, tôn trọng nhau, mình làm trọn bổn phận của mình, người ta làm trọn bổn phận của người ta, không ai cản trở ai. Trong gia đình, anh em hoà thuận, giúp đỡ nhường nhịn nhau cũng do dựa theo đạo lý cơ bản là được sinh ra cùng một nhà, được nuôi dưỡng cùng một cha mẹ.

Mọi “ham muốn” không làm ảnh hưởng tới người khác đều là thiện

Bây giờ hãy mang giá trị của con người ra so sánh thử xem? Chẳng phải là tất cả đều bình đẳng đó sao? Nhưng “bình đẳng” ở đây, không có nghĩa là người nào cũng phải có điều kiện sống ngang nhau. Mà “bình đẳng” ở đây có nghĩa là ai ai cũng đều có quyền lợi ngang nhau, vì chúng ta đều là con người cả.

Nếu nói về điều kiện sống thì có người giàu, người nghèo; kẻ mạnh, kẻ yếu, người thông minh, người đần độn. Có người sinh ra thuộc tầng lớp lãnh chúa, quý tộc, ở trong lâu đài, biệt thự, ăn ngon mặc đẹp, thì cũng có người sinh ra phải đi làm thuê làm mướn, sống trong hang cùng ngõ hẻm, hàng ngày chỉ đủ vắt mũi bỏ miệng.

Bằng tài năng, có người trở thành chính khách, thành doanh nhân tầm cỡ có thể xoay chuyển thế gian, thì cũng có người chỉ có trí tuệ vừa phải, buôn bán lặt vặt, đến đâu hay đó. Có lực sĩ, đô vật Sumo lực lưỡng thì cũng có công tử bột, thiếu nữ liễu yếu đào tơ. Mỗi người mỗi vẻ, nhưng quyền lợi cơ bản với tư cách là con người thì ai cũng như ai, hoàn toàn ngang nhau.

Vậy thì thế nào là quyền lợi của con người? Đó chính là quyền coi trọng sinh mạng, quyền bảo vệ tài sản, quyền tôn trọng nhân cách và danh dự.

Kể từ khi sinh ra con người trên thế giới này, Trời đã truyền cho con người năng lượng thể xác và tinh thần, đã qui định rõ ai cũng có quyền sống. Không kẻ nào được phép xâm phạm quyền lợi đó. Sinh mạng của lãnh chúa cũng quý giá như sinh mạng của người làm thuê. Ý thức bảo vệ đống gia tài khổng lồ của các nhà tư bản kếch sù cũng không khác gì ý thức bảo vệ đồng vốn ít ỏi của những người buôn bán lặt vặt.

Người xưa có câu: “Trẻ con mà khóc thì ai cũng phải chào thua.” Lại còn có câu: “Cha mẹ có nói sai thì con cái vẫn phải cho là phải. Ông chủ bảo gì người làm cũng phải dạ theo.” Ngụ ý là con người không thể có chuyện ngang nhau về quyền lợi. Đấy chính là ví dụ “vơ đũa cả nắm”, ví dụ điển hình cho việc không biết phân biệt đâu là “điều kiện sống”, đâu là “quyền lợi của con người”.

Dân cày có thể khác với địa chủ về điều kiện sống nhưng không khác về quyền lợi. Giẫm phải gai, người dân kêu đau, không lẽ cũng giẫm phải gai mà địa chủ bảo không đau. Ăn của ngon, chủ đất khen ngon, không lẽ cùng ăn của ngon mà dân làm thuê cuốc mướn lại chê dở.

Đã là con người thì ai cũng muốn ăn ngon mặc đẹp, có nhà cao cửa rộng và chẳng có ai lại muốn khổ cả. Âu cũng là lẽ thường.

Người nắm quyền lực vừa có tiền vừa có thế, người nông dân thì lại vừa nghèo vừa kém thế. Phải thừa nhận rằng ở trên cõi đời có người mạnh người yếu, người giàu người nghèo, có sự khác biệt trong điều kiện sống.

Nhưng việc cậy thế vì có tiền, có quyền, lợi dụng sự hơn kém trong điều kiện sinh hoạt để chèn ép người nghèo yếu, chính là hành vi xâm phạm đến quyền lợi của người khác.

Kẻ yếu có cách của kẻ yếu, họ sẽ tự bổ khuyết cho họ. Không có sự chèn ép nào tệ hại hơn việc sự dụng quyền thế để ức hiếp những người nghèo yếu.

Học để hiểu “thế nào là làm tròn công việc của mình”

Dưới thời Mạc phủ, giữa tầng lớp Võ sĩ và tầng lớp thường dân có sự phân biêth sâu sắc. Võ sĩ ra sức lộng quyền, coi nông dân và thị dân như những kẻ tội phạm. Chúng còn đặt ra luật “chém trước, xử sau”. Theo luật này, người dân chỉ cần có biểu hiện trái ý Võ sĩ là lập tức bị hành quyết tại chỗ. Tính mạng của dân không khác sâu bọ, cho sống thì được sống, bảo chết thì phải chết.

Ngược lại, nông dân và thị dân lúc nào cũng phải cúi lạy, nhường lối tránh chỗ cho Võ sĩ dù chẳng có quan hệ, duyên nợ gì. Ngựa mình nuôi nhưng bị cấm cưỡi. Thật đáng căm giận.

Mối quan hệ giữa Võ sĩ và thường dân là quan hệ “giữa cá nhân với cá nhân” mà đã bất công đến như vậy, thử hỏi quan hệ giữa chính phủ và nhân dân là quan hệ giữa “tập thể với tập thể” sẽ như thế nào? Các bạn hãy cùng tôi xem xét.

Có thể nói: Mối quan hệ giữa chính phủ với nhân dân còn tệ hại hơn nhiều. Không chỉ chính quyền trung ương Mạc phủ, mà tại các địa phương, các lãnh chúa điều lập ra chính phủ con trên lãnh địa mình cai quản, mặc sức hà hiếp bóc lột dân chúng, mọi quyền con người của người dân đều không được thừa nhận. Thi thoảng lắm, các lãnh chúa ra vẻ từ bi đưa ra một vài chính sách tử tế (thực ra chỉ khi bị các lãnh chúa vùng khác âm mưu thôn tính lãnh địa của mình thì họ mới làm thế), nhưng cũng chỉ nhằm mị dân nhất thời mà thôi.

Quan hệ giữa chính phủ và nhân dân, như tôi nói ở đoạn trên, chỉ khác nhau ở tình trạng giàu nghèo, mạnh yếu. Còn quyền lợi thì hoàn toàn ngang nhau.

Người nông dân làm ra thóc gạo, nuôi sống con người; người thị dân buôn bán, lưu thông hàng hoá mạng lại sự tiện lợi trong cuộc sống. Đó là công việc của bản thân họ.

Mặt khác, chính phủ đặt ra luật lệ, trấn áp kẻ bất lương, bảo vệ dân lành. Đó là công việc phải làm của chính phủ.

Để làm việc này, chính phủ cần nhiều tiền. Nhưng chính phủ lại không tự làm ra được lúa gạo, không có tiền nong. Vì thế nông dân và thị dân nộp thuế, nộp thóc, tạo ra nguồn ngân sách cho chính phủ.

Hai phía, dân và chính phủ bàn bạc cùng nhau thoả thuận về nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên như nêu trên. Quan hệ giữa nhân dân và chính phủ là quan hệ như vậy.

Nộp thóc, đóng thuế, làm theo pháp luật là nghĩa vụ và trách nhiệm của dân.

Thu đủ thóc, đủ thuế, sử dụng đúng và công khai nguồn tài chính, bảo vệ dân là nghĩa vụ và trách nhiệm của chính phủ.

Nếu cả hai phía đều thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên như trên đây thì chẳng có gì để mà nói. Vì hai bên, bên nào bên nấy cũng đều làm đúng bổn phận của mình, chính phủ không làm phiền dân và dân cũng không làm phiền chính phủ.

Không còn cảnh bị “cùm chân, cùm tay” về tinh thần và vật chất.

Trong xã hội Mạc phủ Tokugawa, người ta đã tôn chính quyền thành “Đấng bề trên”. Mỗi khi “Đấng bề trên” vi hành thì tiền nhà trọ cũng không trả, tiền đò qua sông cũng không thanh toán, tiền công người phục dịch cũng không trao, ngược lại còn đòi hỏi các nơi phải chi tiền rượu chè. Thật là hết chỗ nói. Các lãnh chúa, quan chức chính quyền nghĩ ra đủ trò để tiêu xài, làm cạn kiệt nguồn tài chính. Và để tiếp tục có tiền tiêu xài, họ liền đặt ra đủ loại sắc thuế bắt chẹt dân, buộc dân phải đóng góp. Dân chúng kêu ca, họ nguỵ biện rằng đó là sự “đền ơn, báo đáp đất nước”.

Cái mà họ goi là “đền ơn, báo đáp đất nước” là gì? Chắc là họ muốn nói rằng nhờ có chính quyền này mà dân chúng mới được sống thanh bình, yên ổn làm ăn, không phải lo sợ kẻ xấu. Thế nhưng lập ra pháp luật, bảo vệ dân chúng giữ gìn an ninh… là công việc, là nghĩa vụ đương nhiên của chính quyền. Không thể coi đó là sự ban ơn, không thể coi đó là lòng tốt để rồi bắt dân phải hàm ơn, không thể coi đó là lòng tốt để rồi bắt dân phải hàm ơn hay báo đáp lại chính quyền. Nếu như chính quyền nghĩ như vậy thì ngược lại người dân sẽ nói rằng: Chính quyền phải hàm ơn dân và báo đáp cho dân mới phải, vì chính quyền sống bằng tiền thuế, tiền thóc lúa do dân đóng, cớ vì sao lại có chuyện ngược đời như thế được?

Thực ra bên nào cũng nhận “ơn” của bên kia. Đó là sự có đi, có lại.

Không có đạo lý nào buộc dân phải hàm ơn chính quyền mà chính quyền lại không cần phải hàm ơn dân cả.

Vì sao tập quán xấu này vẫn diễn ra trong cuộc sống hằng ngày? Đó là vì chính quyền miệng nói bình đẳng nhưng không hiểu bình đẳng, lợi dụng chênh lệch giàu nghèo, mạnh yếu, sử dụng quyền lực chèn ép quyền lợi của dân lành.

Đã là con người thì phải thường xuyên nhớ rằng: mọi người sinh ra đều bình đẳng về tư cách và quyền lợi. Đây là điều quan trọng nhất. Ở châu Âu, người ta gọi là reciprocity, tức là quan hệ có đi có lại, có tác động lẫn nhau, lợi ích song phương.

Trong Phần một, tôi viết tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, có cùng địa vị cùng tư cách có nghĩa là như vậy.

7 đánh giá cho Khuyến Học

  1. Được xếp hạng 3 5 sao

    Nguyễn Thị Hiền

    Khuyến học hay những bài học về tinh thần độc lập tự cường của người Nhật Bản – Fukuzawa Yukichi mặc dù là một cuốn sách viết cho người Nhật, nhưng khi đọc từng trang thì mình thấy như là viết cho nước Việt Nam chúng ta. Những tinh thần trong cuốn sách như: “Trời không tạo ra người đứng trên người”; “Người chịu thiệt thòi nhất là những kẻ vô học”; “ Luật pháp quý giá như thế nào?”; “Đừng đánh giá người khác bằng suy xét chủ quan của mình”; “hãy sống và hy vọng ở tương lai”; “chạy theo độc lập sẽ đánh mất độc lập tinh thần” đến nay (năm 2016) vẫn còn nguyên giá trị.

  2. Được xếp hạng 3 5 sao

    Trần Đức Tân

    Nhật Bản là đất nước nổi tiếng với tinh thần độc lập tự cường. Bạn sẽ thấy rõ điều này hơn nữa khi đọc quyển sách ” Khuyến Học ” này. Tác giả mô tả rõ được đất nước mình với tinh thần dân tộc cao, và mục đích thực thụ của việc học vấn. Nhật Bản dưới thời Minh Trị được khắc hoạ lại rõ nét cả về con người, chế độ chính trị, văn hoá, v.v… Đọc mà cảm tưởng như học lịch sử Nhật Bản vậy đó. Quả không hổ danh Nhật Bản hùng mạnh vì họ coi việc học là trên hết và cách suy nghĩ khác xa Việt Nam.

  3. Được xếp hạng 4 5 sao

    Diên Vĩ

    Về nội dung của quyển Khuyến học có lẽ tôi không cần nói nhiều, những lời dạy, lời khuyên vô cùng hữu ích của Fukuzawa Yukuchi. Tuy không cùng thời đại và một vài quan niệm có lẽ không phù hợp với hiện giờ lắm nhưng ngẫm ra nó vẫn thật đúng. Khuyến học không đơn thuần là một quyển sách, nó còn là hành trang làm người của mỗi chúng ta, nó giúp ta hiểu thế nào là một con người thật sự, giúp ta nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân với đất nước, với chính mình. Để từ đó tự mình hoàn thiện mình để trở nên tốt đẹp hơn.

  4. Được xếp hạng 4 5 sao

    Hoàng Hồng Trang

    Đọc khuyến học, tôi nhận ra những giá trị rất đẹp đẽ và những đức tính tốt đẹp mà cả thế giới cần học hỏi từ người Nhật. Những giá trị vượt thời gian khiến bạn đôi khi mỉm cười, đôi khi lại giật mình vì có cảm giác như tác giả đang sống ở thời đại mình vậy. Nó dạy ta kiên cường và cố gắng bằng những lời mạnh mẽ và đanh thép, nhưng cũng dạy ta biết cách suy nghĩ và cách sống không chỉ vì bản thân mà còn với tầm nhìn xa hơn, rộng hơn, vượt qua không gian và thời gian. Thấy mình cũng có thể làm được những điều lớn lao trong cuộc đời.

  5. Được xếp hạng 3 5 sao

    Nguyễn Thành

    Tác giả người Nhật khuyến khích người Nhật học tập để có địa vị trong xã hội vì theo như ông không có người đứng trên người và cũng không có người đứng dưới người. Tất cả được quyết định bởi tri thức của bạn. Không phải kiểu tri thức vẹt mà là áp dụng được vào thực tế, mang lại kết quả. Cuốn sách phù hợp với các bạn trẻ đang học tập để có định hướng tốt cho tương lai. Cũng như những người đã đi làm và nghĩ rằng rời khỏi trường học là không cần học nữa. Rất thích hợp để gối đầu giường và nghiền ngẫm.

  6. Được xếp hạng 3 5 sao

    Nguyen Lanh

    Thông qua cuốn sách mình cũng hiểu về nước Nhật khi xưa hơn.
    Đọc nội dung xuyên suốt cả quyển mình thấy nội dung thích hợp là sống và làm việc theo pháp luật thì đúng hơn.
    Mình rất thích tinh thần chính trực và cách nêu lên vấn đề của tác giả. Mình nghĩ một số vấn đề của nước Nhật khi xưa lại vẫn là vấn đề của Việt Nam bây giờ. Chứng tỏ Việt Nam đi sau Nhật rất nhiều năm không chỉ về kinh tế mà cả về xã hội. Bây giờ khi Nhật phát triển rồi thì báo chí ca ngợi người Nhật dù đúng nhưng trước đó mình thấy người Nhật cũng không hẳn được như bây giờ. Có lẽ nếu Việt Nam mà là nước phát triển thì cũng có những câu ca ngợi như người Việt Nam chăm chỉ, thông minh, sáng tạo, cần cù…Hoặc có thể không =))
    Thời phong kiến của Nhật còn những luật lệ, hủ tục còn cổ hủ hơn cả Việt Nam. Không biết Nhật đã làm thế nào để xóa bỏ hoàn toàn những suy nghĩ đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân như vậy? Tầng lớp Samurai có thể giết bất cứ ai không vừa ý, quan liêu thì cậy quyền chức, dân đen thì không có tiếng nói…Cũng có thể qua cuộc cách mạng Minh Trị thì đã xóa bỏ dần được chăng? Mình không biết nhưng qua những vấn đề tác giả nêu trong thời phong kiến mình thấy rất phục Nhật Bản có thể phát triển được như bây giờ.
    Đọc sách điều mình nhận ra lớn nhất là mình bị trị nhưng cũng có thể tự trị. Chúng ta sống và làm việc theo pháp luật, nhưng những gì chúng ta thấy bất bình chúng ta có thể đứng lên đấu tranh giành lại quyền lợi cho mình.
    Một đất nước muốn phát triển lâu dài thì mọi người phải tin tưởng lẫn nhau, chính phủ tin tưởng vào dân, dân phải tin vào chính phủ. Mình thấy rất đúng. Nếu ở Việt Nam mà làm được điều này thì các thế lực thù địch phản động sẽ không dễ dàng kích động dân ta như vụ việc đặc khu kinh tế 99 năm vừa rồi.
    Mỗi người cũng cần phải có kiển thức để nhận thức được việc làm đúng sai, bản thân cũng cần có chính kiến.

  7. Được xếp hạng 3 5 sao

    Ngô Thị Thu Hường

    Cuốn sách này nói về vấn đề giáo dục của Nhật Bản, gồm những quan điểm cũ mới, tư duy trước sau và thực trạng nữa. Lời văn của người dịch khá mượt và dễ đọc. Lối viết của tác giả cũng thân thiện, không khiến người đọc phải gồng lên để tiếp thu. Nội dung thì giống như một thước phim từ quá khứ đến hiện tại nên hầu như đều là những tư tưởng đã được nghiên cứu và xác thực trong thời đại hiện nay rồi, nên không có nhiều yếu tố tươi mới. Cuốn sách này chỉ là một cuốn sách đọc để đọc chứ không thiên nhiều về đọc để tư duy nên không đọng lại lâu trong lòng những độc giả bình thường và khôgn muốn nghiên cứu sâu về lịch sử hay gì đó như mình.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
Close