Kinh Tế Học Hài Hước

Kinh tế học hài hước không phải và không thể là một quyển sách kinh tế bình thường. Không phải là những lý thuyết mang tính cứng nhắc càng không phải là những công thức toán học rắc rối, quyển sách chỉ cố giải thích mọi vấn đề xã hôi, kinh tế bằng những kiến thức kinh tế được viết ra một cách đơn giản và dễ hiểu nhất nếu không nói là có thểm chút hài hước. Quyển sách đem đến những lới giải đáp thú vị và mới mẻ cho những vấn đề tưởng chừng quen thuộc và đôi khi đưa lên những công hỏi tưởng chừng như không có gì liên quan và rất kì lạ chẳng hạn như giáo viên và đô vật su mô có gì liên quan với nhau, tại sao những tên tội phạm ma túy vẫn sống cùng mẹ… Cuốn sách khiến cho người đọc có cái nhìn mới hơn, sâu sắc hơn và sáng tạo hơn vào cuộc sống và mọi hiện tượng xung quanh mình.

Tác giả: Steven D. Levitt

Nói đến kinh tế học, người ta thường coi đây là một ngành khoa học ít nhiều khá khô khan, thường liên quan đến các con số, các khuôn mẫu hay chỉ đơn thuần là tiền bạc, tài chính. Ngay cả những người được giải Nobel kinh tế cũng ít khi được dư luận quan tâm như những người được giải Nobel Hoà bình, văn học hay vật lý. Kinh tế học dường như là một ngành khoa học quá hàn lâm, quá phức tạp, quá xa với thế giới thực, một thừ gì đó mà người ta chỉ có thể quan sát từ xa chứ ít khi tham gia trực tiếp.

Kinh Tế Học Hài Hước đã hình thành nên tiền đề bất tuân thủ quy ước thông thường. Nếu chuẩn mực thể hiện cách chúng ta muốn thế giới vận động thì kinh tế học thể hiện sự vận động thực chất của thế giới. Độc giả của cuốn sách này sẽ biết tới hàng loạt những thực tế đáng kinh ngạc và nhiều câu chuyện gấp dẫn và vui vẻ, một số có thể là tiền đề cho những nghiên cứu sâu hơn về xã hội, một số đơn giản chỉ là những chủ đề tán gẫu trong hàng vạn cuộc trà dư tửu hậu.

Nhưng Kinh Tế Học Hài Hước còn có thể mang tới cho độc giả nhiều hơn thế. Đó chính là cách xác định lại thế giới quan của chúng ta. Thế giới mà chúng ta đang sống chứa đầy những nhận định dựa trên những niềm tin ảo tưởng và sáo mòn được xây dựng theo thời gian. Có quá nhiều nỗ lực trí tuệ của chúng ta bị giới hạn trong những biên giới tư duy và khái niệm đã quá cũ kỹ và đi theo lối mòn truyền thống. Kinh tế học hài hước là một nguồn thông tin dồi dào, những phân tích đánh giá đầy sáng tạo, gợi cảm hứng, dí dỏm, hấp dẫn, có thể là tất cả những gì mỗi chúng ta cần để khởi dậy óc sáng tạo và cách tư duy hiện đại trong một thời đại tràn ngập thông tin ngày nay.

Trích đoạn sách hay

TẠI SAO NHỮNG TÊN BUÔN MA TÚY VẪN SỐNG CÙNG MẸ?

Hai chương trước được xây dựng xung quanh một cặp câu hỏi lạ lùng: Giáo viên phổ thông và đô vật Sumo có điểm chung nào? và Đảng 3K giống người môi giới bất động sản như thế nào? Nhưng nếu đưa ra nhiều câu hỏi cũng có vẻ lạ lùng như vậy, bạn có thể tìm ra đôi điều thú vị.

Bí quyết đầu tiên để đặt câu hỏi là xác định câu hỏi của bạn có thú vị hay không. Một câu hỏi chưa từng được đặt ra không đồng nghĩa với một câu hỏi hay. Những người thông minh đã đặt ra vô số câu hỏi từ vài thế kỷ trước và rất nhiều câu hỏi chưa từng được hỏi không mang lại những câu trả lời thú vị nào.

Nhưng nếu bạn có thể hỏi những điều mà mọi người thật sự quan tâm và có thể tìm ra câu trả lời làm họ ngạc nhiên − nghĩa là nếu bạn có thể đảo lộn suy nghĩ thông thường − khi đó có thể bạn sẽ gặp may.

Chính John Kenneth Galbraith, một nhà kinh tế thông thái, người đã đưa ra khái niệm “nhận thức thông thường” (conventional wisdom). Theo ông, đó không phải là lời tán dương. Ông viết: “Chúng ta gắn chân lý với sự thuận tiện, với những điều phù hợp, tương đồng, với lợi ích và hạnh phúc cá nhân để đảm bảo tránh phải đối mặt với những nỗ lực gây phiền toái hay sự thay đổi không mong muốn trong cuộc sống. Chúng ta có thể dễ dàng chấp nhận những gì vuốt ve lòng tự trọng của bản thân”. Galbraith viết tiếp: “Hành vi kinh tế và xã hội là vô cùng phức tạp và để hiểu được đặc tính của chúng sẽ rất mệt đầu. Vì vậy, chúng ta tuân theo những nhận thức thông thường của chúng ta.”

Vì vậy, “nhận thức thông thường” theo quan điểm của Galbraith nhất định phải đơn giản, thuận tiện, thoải mái và làm người ta dễ chấp nhận − dù không nhất thiết là đúng. Sẽ thật ngốc nghếch khi tranh luận rằng nhận thức thông thường không bao giờ đúng. Nhưng lưu ý khi nào thì nhận thức thông thường có thể sai − hệ quả của lối suy nghĩ tùy tiện và ích kỷ sẽ là điểm thích hợp để bắt đầu đặt câu hỏi.

Hãy xem xét những thông tin gần đây về tình trạng vô gia cư tại Mỹ. Trong những năm đầu thập niên 1980, một người ủng hộ những người vô gia cư tên là Mitch Snyder đã phát biểu rằng có 3 triệu người Mỹ vô gia cư. Dư luận ngay lập tức chú ý tới sự việc này. Có đến hơn 1 trên 100 người là vô gia cư? Con số này có vẻ quá cao, nhưng…, chuyên gia đã nói như vậy! Một vấn đề cho tới nay ít ai chú ý bỗng nhiên giáng một đòn mạnh vào nhận thức của cả dân tộc. Snyder thậm chí đã chứng thực trước Quốc hội về tính chất nghiêm trọng của vấn đề. Ông ta cũng đã phát biểu tại một trường đại học rằng cứ mỗi giây có 45 người vô gia cư chết − điều này có nghĩa có đến 1,4 tỷ người vô gia cư chết mỗi năm. (Dân số Mỹ thời điểm đó là 225 triệu người). Giả sử rằng Snyder đã nói sai hay trích dẫn sai và có ý nói là cứ 45 giây có 1 người vô gia cư tử vong, vậy là vẫn có tới 701.000 người vô gia cư tử vong mỗi năm − chiếm tới một phần ba số người tử vong tại Mỹ. Cuối cùng, khi bị chất vấn về con số 3 triệu người vô gia cư, Snyder đã phải thú nhận rằng đó là điều bịa đặt vì cánh nhà báo luôn săn lùng ông để có một con số cụ thể, và ông không muốn họ ra về tay không.

Rất đáng buồn nhưng không có gì ngạc nhiên khi biết rằng các chuyên gia như Snyder có thể vì lợi ích cá nhân mà gian dối. Nhưng họ không thể tự mình lừa dối. Cánh báo chí cần tới các chuyên gia, cũng như các chuyên gia cần tới cánh báo chí. Mỗi ngày có bao nhiêu tờ báo và kênh truyền hình cần đưa tin tức và chuyên gia nào có thể cung cấp một mẩu thông tin gây tiếng vang sẽ luôn được chào đón. Cùng kết hợp với nhau, nhà báo và chuyên gia trở thành những kiến trúc sư của “nhận thức thông thường”.

Quảng cáo cũng là một công cụ thần kỳ để tạo ra nhận thức thông thường. Ví dụ như nước sát trùng đã được sáng chế vào thế kỷ XIX là một chất tẩy trùng hiệu nghiệm trong phẫu thuật. Sau đó, chất này đã được bán dưới dạng chưng cất, được dùng làm chất tẩy rửa sàn nhà và chữa trị bệnh lậu. Nhưng mãi tới tận những năm 1920, nó mới thành công vang dội khi được coi là giải pháp chữa trị “chứng hôi miệng mãn tính” − một chứng bệnh sau này thuật ngữ y học gọi là chứng hơi thở hôi. Quảng cáo mới về nước tẩy trùng đã nhắm vào những chàng trai, cô gái đang tuyệt vọng, mong mỏi bước vào hôn nhân nhưng đã thất vọng vì hơi thở khó chịu của người bạn đời tương lai. “Tôi có thể vẫn vui vẻ với anh ấy bất chấp nó không?”, một thiếu nữ tự hỏi. Cho tới thời điểm đó, hơi thở hôi không được coi là một vấn đề nghiêm trọng. Nhưng nước tẩy trùng đã làm thay đổi điều đó. Như một học giả ngành quảng cáo là James B. Twitchell đã viết: “Nước tẩy trùng không làm sạch vòm miệng nhiều như việc gây chứng hôi miệng.” Chỉ trong vòng bảy năm, doanh thu của công ty đã tăng từ 115.000 đô-la lên hơn 8 triệu đô-la.

Nhận thức thông thường do con người tạo ra nhưng lại rất khó để thay đổi. Paul Krugman, người phụ trách chuyên mục của tờ New York Times đã chỉ trích gay gắt George W. Bush, và than vãn trước thực tế chiến dịch vận động tái bầu cử tổng thống thành công vào đầu năm 2004: “Một câu chuyện được sắp đặt trước về Bush, mô tả ông ta là một người mộc mạc, trung thực, thẳng thắn, đi kèm với những giai thoại theo đúng tinh thần câu chuyện. Nhưng nếu nhận thức thông thường được thay bằng câu chuyện kể rằng ông ta chỉ là một đứa trẻ gian dối được nuông chiều và gặp may mắn, khi đó đám báo chí sẽ có khối tư liệu để viết bài”.

Trong những tháng diễn ra cuộc xâm lược Iraq của Mỹ vào năm 2003, nhiều chuyên gia đã truyền nhau một số dự báo hoàn toàn trái ngược về vũ khí huỷ diệt hàng loạt của Iraq. Nhưng thông thường, cũng như với “số liệu” về người vô gia cư, một bên đã giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh của nhận thức thông thường. Ví dụ như những người ủng hộ quyền phụ nữ, họ đã phóng đại về ảnh hưởng của bạo lực tình dục, khẳng định rằng cứ ba phụ nữ Mỹ thì có một người là nạn nhân của hành vi cưỡng bức hay cố ý xâm hại. (Có vẻ con số sát thực tế hơn là có một nạn nhân bị hành hung trong số tám phụ nữ − nhưng những người ủng hộ phụ nữ biết rằng chỉ có kẻ nhẫn tâm mới tranh cãi về khẳng định của họ trước dư luận). Các tổ chức y tế cứu chữa những căn bệnh hiểm nghèo cũng thường hành động như vậy. Tại sao không? Một lời nói dối sáng tạo có thể thu hút sự chú ý, sự phẫn nộ và − có lẽ quan trọng nhất – quyên góp được tiền bạc và sức mạnh chính trị để giải quyết những vấn đề có thực.

Dĩ nhiên một chuyên gia, dù là người bảo vệ sức khỏe phụ nữ, hay một chính trị gia, nhân viên marketing, đều có những động cơ khác nhau. Những động cơ của một chuyên gia có thể thay đổi hoàn toàn tuỳ vào tình huống cụ thể.

Hãy xem xét giới cảnh sát. Một cuộc khảo sát gần đây đã phát hiện cảnh sát ở Atlanta đã báo cáo sai hoàn toàn về tình hình tội phạm kể từ đầu những năm 1990. Có vẻ sự việc này bắt đầu từ khi Atlanta đang vận động để trở thành chủ nhà của Olympic 1996. Thành phố cần xoá bỏ hình ảnh bạo lực của mình và phải nhanh chóng làm được điều đó. Vì vậy, mỗi năm có hàng ngàn báo cáo tình hình tội phạm đã đánh giá thấp đi, từ bạo lực thành phi bạo lực hay đơn giản là bỏ qua. (Bất chấp những nỗ lực không mệt mỏi này, chỉ trong năm 2002 vẫn có hơn 22.000 vụ mất tích được báo cáo − Atlanta thường xuyên được đánh giá là một trong những thành phố bạo lực nhất nước Mỹ).

Cũng tại thời điểm đó, cảnh sát ở các thành phố khác đã thêu dệt một câu chuyện khác trong suốt những năm 1990. Sự xuất hiện bất ngờ của cocain tái chế đã khiến các đội cảnh sát điên đảo tìm kiếm nguồn gốc của chúng. Giới cảnh sát khiến mọi người nghĩ rằng đó không phải là một cuộc chiến cân sức: bọn buôn bán ma túy được trang bị những vũ khí tối tân và nguồn tiền vô hạn. Sự nhấn mạnh về tiền bạc bất hợp pháp rõ ràng đã đạt được mục đích, bởi vì không có điều gì làm điên đầu các công dân luôn tuân thủ luật pháp hơn là hình ảnh của một kẻ buôn bán ma túy sở hữu bạc triệu. Giới truyền thông hoan hỉ xoáy vào câu chuyện này, mô tả việc buôn bán cocain tái chế như một trong những việc làm ăn mang lại lợi nhuận cao nhất ở Mỹ.

Nhưng nếu dành thời gian lòng vòng xung quanh các khu nhà quy hoạch nơi cocain tái chế thường được bán, bạn có thể đã chú ý tới một điều lạ lùng đó là: không chỉ hầu hết bọn buôn bán ma túy vẫn trú ngụ trong những khu nhà quy hoạch, mà chúng vẫn sống với mẹ. Và khi đó bạn sẽ gãi đầu gãi tai thắc mắc rằng “Sao lại thế nhỉ?”

Câu trả lời nằm trong các dữ liệu chính xác và quyết bí để tìm ra chúng (hoặc tìm ra người cung cấp thông tin). Bọn buôn bán ma túy hiếm khi được đào tạo về kinh tế học và các nhà kinh tế học cũng hiếm khi qua lại với bọn buôn bán ma túy. Vì vậy, câu trả lời cho câu hỏi này bắt đầu bằng việc tìm ra một gián điệp thật sự sống giữa bọn buôn bán ma túy và tìm cách khui ra những bí mật trong nghề buôn bán của chúng.

Sudhir Venkatesh – được bạn bè cùng trang lứa gọi anh là Sid, nhưng anh chàng đã đổi tên thành Sudhir − sinh ra tại Ấn Độ, lớn lên tại vùng ngoại ô cách xa New York và Nam California, tốt nghiệp chuyên ngành toán học ở trường Đại học California − San Diego. Năm 1989 anh bắt đầu học lên bậc tiến sỹ ngành xã hội học tại trường Đại học Chicago. Anh thích tìm hiểu quá trình hình thành tính cách của thanh thiếu niên; và đã dành ba tháng để theo chân ban nhạc Grateful Dead (một nhóm nhạc rock nổi tiếng của Mỹ − ND) đi khắp đất nước. Điều làm anh không hề thích thú đó là công việc nghiên cứu thực địa thật mệt nhọc nhưng đó chính là đặc trưng của ngành xã hội học.

Nhưng người hướng dẫn tốt nghiệp của anh, một chuyên gia nghiên cứu về vấn đề đói nghèo, ông William Julius Wilson, đã nhanh chóng dẫn dắt Venkatesh vào lĩnh vực này. Nhiệm vụ của anh: ghé thăm các khu lân cận của người da đen nghèo khổ nhất của Chicago với một kẹp tài liệu và bản điều tra trắc nghiệm gồm 70 câu hỏi. Đây là câu hỏi đầu tiên trong bản điều tra:

Bạn cảm thấy thế nào khi là người da đen và nghèo?

a. Rất tệ

b. Tồi tệ

c. Không tệ nhưng cũng không tốt

d. Hơi hơi tốt

e. Rất tốt

Một hôm, Venkatesh cuốc bộ từ trường đại học qua 20 khu nhà tới một khu nhà quy hoạch bên bờ sông Michigan để thực hiện cuộc điều tra. Khu quy hoạch gồm ba tòa nhà mười sáu tầng xây bằng gạch màu vàng xám. Venkatesh sớm phát hiện ra rằng những tên và địa chỉ anh nhận được đã quá cũ. Những ngôi nhà này đã không có người sử dụng nữa, thực tế là bị bỏ hoang. Một số gia đình sống trong những tầng thấp, dùng điện nước trái phép và cầu thang máy không hoạt động. Đèn cầu thang cũng trong tình trạng tương tự. Lúc đó là một buổi chiều muộn trong ngày đầu đông, ngoài trời gần như tối bưng.

Venkatesh, một anh chàng chín chắn, bảnh trai, có vóc dáng vạm vỡ nhưng không phải là người quá dũng cảm, đã leo tới tầng sáu của khu nhà, tìm kiếm người sẵn lòng điền vào bảng điều tra trắc nghiệm. Đột nhiên, anh hoảng hốt khi trông thấy một đám thiếu niên đang chơi xúc xắc ở đầu cầu thang. Hóa ra chúng là đám trẻ bán ma túy quanh khu nhà, và chúng chẳng vui vẻ gì khi trông thấy anh.

“Tôi là sinh viên trường Đại học Chicago,” Venkatesh ấp úng vừa nói vừa chọc cây bút vào bản tài liệu, “và tôi đang tiến hành…”

“Thằng mọi khốn kiếp kia, mày đang làm cái quái gì ở chỗ bọn tao hả?”

Lúc đó, ở Chicago đang diễn ra một cuộc chiến băng đảng. Gần đây, các hành vi bạo lực với các vụ bắn giết hầu như diễn ra hàng ngày. Băng nhóm này là một nhánh của Băng đảng Đen, bọn chúng rõ ràng là đang rất căng thẳng. Chúng không biết xử thế nào với Venkatesh. Có vẻ anh ta không phải là thành viên của băng đảng địch thủ. Nhưng có thể anh ta là một loại gián điệp. Dĩ nhiên anh ta không phải là “cớm” . Anh ta không phải da đen, cũng không phải da trắng. Trông anh ta không hẳn là đáng sợ − anh ta chỉ được trang bị một chiếc kẹp tài liệu − nhưng anh ta cũng không có vẻ hoàn toàn vô hại. Nhờ có ba tháng theo gót nhóm Grateful Dead, anh ta vẫn − như sau này Venkatesh tự mô tả − “giống như một tên quái vật, với tóc tai dài tới gót”.

Đám trẻ đó bắt đầu tranh cãi xem xử lý Venkatesh thế nào. Để cho anh ta đi? Nhưng nếu anh ta kể lại cho băng nhóm đối thủ về chỗ trú ẩn ở cầu thang, chúng sẽ dễ bị một trận tấn công bất ngờ. Một đứa có vẻ bồn chồn, luôn tay lúc lắc một vật gì đó − trong ánh sáng lờ mờ, cuối cùng Ventakesh nhận ra đó là một khẩu súng − và nó lẩm bẩm, “để hắn cho tao, để hắn cho tao”. Ventakesh đã rất, rất sợ hãi.

Đám trẻ ngày càng đông hơn và lớn tiếng hơn. Sau đó một đứa lớn hơn xuất hiện. Nó giật lấy kẹp tài liệu từ tay Venkatesh và khi nó trông thấy đó là một bảng câu hỏi viết sẵn, trông nó thật lúng túng.

“Tao không thể đọc được thứ chết tiệt này”, nó nói.

“Đó là vì anh không biết đọc”, một đứa trong đám nói, và những đứa khác cười ha hả vào mặt đứa lớn hơn kia.

Nó bảo Venkatesh tiến lên và hỏi nó một câu hỏi từ bản điều tra. Venkatesh đưa ra câu hỏi: “Bạn cảm thấy thế nào khi là người da đen và nghèo?”. Đáp lại là một tràng la hét, vài đứa thậm chí còn giận dữ hơn những đứa khác. Như sau này Venkatesh kể lại với các đồng nghiệp ở trường đại học, anh nhận ra rằng năm câu trả lời đưa ra là chưa đủ. Bây giờ thì anh biết, thực tế, những câu trả lời cần phải như thế này:

a. Rất tệ

b. Tồi tệ

c. Không tệ nhưng cũng không tốt

d. Hơi hơi tốt

e. Rất tốt

f. Đồ chết tiệt

Khi tình hình có vẻ ảm đạm đối với Venkatesh thì một nhân vật khác xuất hiện. Đó là J.T., thủ lĩnh của băng nhóm. J.T. muốn biết chuyện gì đang diễn ra. Vì vậy hắn ta bảo Venkatesh đọc to các câu hỏi điều tra. J.T. lắng nghe rồi sau đó nói rằng hắn ta không thể trả lời được câu hỏi bởi vì không phải là người da đen.

“Vậy”, Venkatesh nói, “là người Mỹ gốc Phi và nghèo khổ thì cảm thấy thế nào?“

“Tao không phải là người Mỹ gốc Phi, đồ ngu. Tao là da màu.” J.T. sau đó đã thổi một tràng về bài học phân biệt thế nào là “da màu” với “Mỹ gốc Phi” với “da đen”. Sau khi hắn ta nói xong, một sự im lặng gai người bao trùm lên bầu không khí. Vẫn không ai biết nên làm gì với Venkatesh. J.T., ở độ tuổi gần 30, đã xoa dịu đám đệ tử, nhưng hắn ta không muốn can thiệp trực tiếp vào việc bắt giữ của bọn chúng. Màn đêm buông xuống và J.T. bỏ đi. “Không có ai sống sót ra khỏi đây,” một đứa trông bồn chồn, có khẩu súng trong tay đã cảnh cáo Venkatesh, “Mày biết vậy không hả?”

Khi đêm đã về khuya, đám bắt giữ Venkatesh cũng trở nên dễ tính hơn. Chúng cho Venkatesh một ngụm bia, sau đó hết cốc này tới cốc khác. Khi phải đi vệ sinh, anh cũng đi chỗ chúng đi − trên chỗ đầu cầu thang tầng trên. Đêm hôm đó, J.T. tạt qua vài lần nhưng không nói gì nhiều. Trời sáng dần và sau đó tới trưa. Thỉnh thoảng, Venkatesh cố trao đổi về cuộc khảo sát nhưng mấy đứa thiếu niên bán ma túy chỉ cười cợt và nói rằng những câu hỏi của anh thật ngu ngốc. Cuối cùng, gần 24 tiếng sau khi Venkatesh rơi vào vòng vây của chúng, anh đã được thả.

Anh về nhà và tắm rửa. Anh đã được giải thoát nhưng vẫn rất tò mò. Anh chợt nhận ra rằng hầu hết mọi người, trong đó có cả anh, chưa từng bao giờ suy nghĩ nhiều về cuộc sống hàng ngày của những tên tội phạm ở các khu người da màu. Giờ đây, anh thấy hào hứng tìm hiểu Băng đảng Đen − từ trên xuống dưới − hoạt động như thế nào.

Sau vài giờ, Venkatesh đã quyết định quay trở lại khu nhà quy hoạch. Lúc này, anh đã nghĩ ra được một số câu hỏi thú vị hơn.

Cần nhìn nhận ngay từ ban đầu rằng phương thức thu thập dữ liệu nặng tính hình thức trong trường hợp này thật không hợp lý, Venkatesh đã quyết tâm xếp lại bảng điều tra và gia nhập vào băng nhóm. Anh đã theo sát J.T. và đưa ra lời đề nghị. J.T. nghĩ Venkatesh đã hóa điên − một sinh viên đại học lại muốn tham gia băng nhóm bán ma túy? Nhưng hắn đã phải khâm phục những gì Venkatesh thể hiện sau đó. Thực ra J.T. tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh doanh. Sau khi tốt nghiệp, hắn làm việc tại Loop, ở phòng tiếp thị của một công ty kinh doanh thiết bị văn phòng, nhưng cảm thấy vô cùng chán ghét nơi đó − giống như một người da trắng làm việc tại các trụ sở của Afro Sheen, hắn nói như vậy − tới mức đã bỏ việc. Tuy nhiên, J.T. không bao giờ quên những gì đã học được. Hắn biết tầm quan trọng của việc thu thập dữ liệu và tìm ra những thị trường mới; vì thế luôn tìm kiếm những chiến lược quản lý hiệu quả hơn. Nói cách khác, không phải ngẫu nhiên mà J.T. là thủ lĩnh của băng đảng bán ma túy. Hắn sinh ra để làm lãnh đạo.

Sau một vài cuộc tranh cãi, J.T. cho phép Venkatesh tự do xâm nhập vào các hoạt động của băng nhóm tới chừng nào J.T. vẫn giữ quyền phủ quyết về các thông tin mà nếu bị công bố có thể sẽ gây nguy hiểm.

Khi những tòa nhà đổ nát trước hồ bị phá hủy, không lâu sau cuộc viếng thăm đầu tiên của Venkatesh, băng nhóm đã chuyển tới một tòa nhà khác, thậm chí còn sâu vào phía Nam Chicago hơn. Trong sáu năm tiếp theo, Venkatesh đã sống ở đó. Dưới sự bảo vệ của J.T., anh đã tận mắt quan sát các thành viên của băng nhóm, cả khi làm việc hay ở nhà. Anh đã hỏi vô vàn câu hỏi. Thỉnh thoảng, chúng cũng bực bội với sự tò mò của anh nhưng thường chúng hay tận dụng thái độ sẵn lòng lắng nghe của anh. “Ở đây là một cuộc chiến đó anh bạn”, một tên bán ma túy kể với anh. “Nghĩa là mọi người luôn phải tranh đấu để tồn tại, vì vậy anh bạn biết không, tụi này chỉ làm những gì có thể làm. Tụi này không có lựa chọn nào khác và nếu bị chém giết thì đó là những gì tụi da màu quanh đây làm để nuôi gia đình.”

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Kinh Tế Học Hài Hước”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *