Tâm Thức Israel

Cuốn sách lý giải những suy nghĩ, cảm nhận của người Israel trong mỗi diễn biến lịch sử, nhất là từ thế kỷ XX đến nay (2015), và cả ảnh hưởng, tác động, dư chấn của chúng sau này, khắc họa ý thức dân tộc của họ, về mối quan hệ của những kiểu người Do Thái sống ở những nơi khác nhau, mối quan hệ của Israel với các nước, các khu vực khác như Mỹ, các nước Ả rập, Palestine,…

Tác giả: Alon Gratch

Một Israel xấu xí hay một Israel thẳng thắn quyết liệt? Câu trả lời nào thái độ của những người Isreal, phải chăng là sự phòng vệ chính đáng. Tuổi thơ của những đứa trẻ Israel đến khi lớn lên thành những người trưởng thành hay già cỗi, luôn bị đe dọa bởi những cuộc chiến. Mọi đứa trẻ sinh ra trong bão lửa khói đạn, mặc nhiên hình thành một tính cách khẳng khái, bộc trực, đâu đó lại có chút phòng vệ và cứng đầu,và đầy mâu thuẫn.

Câu chuyện trong Tâm thức Israel không chỉ là câu chuyện riêng của một gia đình Do Thái, mà chính là những chuyện xảy ra với mọi người dân Do Thái nói chung. Bữa ăn hàng ngày, mạng sống và tự do. Tất cả những gì họ cần chỉ là những thứ thiết yếu, phải chăng luôn mong manh và có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào.

“Tác dụng phụ của những khác biệt văn hóa – tâm lý giữa Hoa Kỳ và Israel” hay “tác động kết hợp của những củ cà rốt hứa hẹn của Mỹ và những cây gậy đe dọa của Israel” đan cài trong từng trang sách. Vai trò của Israel trong sự tồn tại của thế giới đương đại được dẫn dụ từ cái nhìn lịch sử, tất cả mọi biến động đều được tác gỉả ghi lại lời kể chi tiết đến từng góc cạnh, góp phần lý giải tâm thức của những con người Do Thái vốn mang dáng vẻ bí ẩn và thu hút đến kỳ lạ với phần còn lại của thế giới.

Có lẽ không ai phù hợp để nhận sứ mệnh khắc họa nên bức tranh Isreal hơn một người sinh ra trên mảnh đất này, nhìn nhận văn hóa tại quê hương và hấp thụ nền giáo dục phương Tây. Alon Gratch sẽ mang đến sự phản ánh chân thực nhất, như một cuốn từ điển về tâm thức một dân tộc, lý giải vị trí của Israel trên bản đồ thế giới.

Nét riêng biệt tạo nên bởi cách tác giả kết hợp việc kể lại câu chuyện và lý giải thực tế, mang tới cho độc giả một cảm nhận gần gũi như đang được xem một thước phim tài liệu vậy. Tôn giáo và chính trị, cuộc sống và con người, nạn nhân và kẻ thủ ác, trí tuệ và linh hồn … tất cả tạo nên một bản sắc Israel bí ẩn, cấu thành tương lai khu vực đầy biến động-Trung Đông và thậm chí, có thể thay đổi cả thế giới.

 

Trích đoạn sách hay

CON NGƯỜI CHẲNG LÀ GÌ NGOÀI BẢN SẮC MẢNH ĐẤT NƠI MÌNH SINH RA

Chẳng có mấy ngoại lệ, người Israel rời Israel đều tâm niệm thế khi tới bất cứ nơi nào. Họ không chỉ liên kết với những người Israel khác và lưu giữ nhiều nghi lễ và những nét văn hóa của họ – trong lĩnh vực ẩm thực, ngôn ngữ, âm nhạc, nghệ thuật và chính trị – mà còn luôn lên kế hoạch hoặc mơ ước về ngày trở về. Anh trai tôi, hiện đã trở về Israel sau hơn 30 năm sống ở New York, nói rằng vấn đề không phải là tại sao anh ấy trở về Israel mà là tại sao anh ấy không bao giờ có thể rời bỏ nó. Trong trường hợp của riêng tôi, chẳng có những kế hoạch hay một giấc mộng hồi hương nào. Vì một điều, vợ tôi, và sau này là các con tôi, trăm phần trăm là người Mỹ. Chẳng mong ước một chốn hai nơi, tôi chủ tâm không nói tiếng Hebrew với con cái mình khi chúng đang ở tuổi dưỡng dục. Tuy nhiên, khi chúng còn nhỏ và mỗi lúc tôi hát ru chúng, thế nào đó tôi lại lạc sang bài “Kinneret Sheli”(83) tuyệt đẹp. Bài hát được phổ nhạc từ bài thơ của nhà thơ Rachel, một chiến sĩ Zion thời kỳ đầu, đã lý tưởng hóa đối tượng thân thuộc của bà, biển hồ Galilee, và bài hát đặt ra một câu hỏi liệu biển ấy có phải chỉ tồn tại trong giấc mơ. Là hồ nước ngọt độc nhất ở đất nước, biển hồ Galilee là một trong những địa điểm nghỉ dưỡng của gia đình tôi, và bởi vậy, trong tâm trí thơ trẻ của tôi, nó vừa thực lại vừa mơ. Nhưng bài thơ, cùng với nhạc điệu thiết tha nhẹ nhàng, đã đẩy nó vào một miền hư ảo. Trên thực tế, hồ này ở một vị trí khá đẹp, nhưng ngoài một ngôi giáo đường đẹp như một miền cổ tích ở bờ nam của hồ thì chẳng có gì để mà trông đợi. Điều đó cũng đúng với toàn bộ phong cảnh hình thế của Israel. Giống như hầu hết các nước, Israel có rất nhiều điểm thực sự đẹp, nhưng hầu hết còn lại là khô cằn, đơn điệu, có thể chỗ nọ chỗ kia có núi non trập trùng một chút, còn lại hầu như chỉ toàn là một màu vàng úa, điểm xuyết vài nét xanh đây đó. Ngoại trừ biển Galilee, diện tích mặt nước của Israel gồm khoảng ba con lạch rộng – tất cả đều được xếp vào hàng sông trong tiếng Hebrew – và một Biển Chết. Có một vài khu rừng thưa, khô bụi, và ba hay bốn dãy núi tính theo lãnh thổ trước năm 1967. Có rất nhiều trung tâm thị trấn cổ xưa sầm uất và những di chỉ tôn giáo, một vài đoạn ven biển Địa Trung Hải như những viên ngọc quý, và một số tòa nhà và villa hiện đại thời thượng bắt mắt. Israel có nhiều di tích khảo cổ cực thu hút. Nhưng nó chẳng có chỗ cho Alps, những ngôi làng trung cổ trên đỉnh đồi, những lâu đài thời Phục hưng, Rừng Đen(84), Salzburgs(85), cũng chẳng có nông thôn nước Anh, Hẽm Lớn (Grand Canyon), hay San Francisco. Nhìn chung, các thị trấn và thành phố của nó được thiết kế đơn điệu, lộn xộn, ô nhiễm và rối beng về mặt kiến trúc. Nhưng mặc cho tất cả những điều này, tôi cho rằng, chính vì như vậy, người Israel gắn bó với hình sông thế núi của mảnh đất mình sâu sắc hết mức có thể.

Con người chẳng là gì ngoài bản sắc nơi mình sinh ra; tuy nhiên có người cho rằng, đây khó có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên bởi dòng chữ nổi tiếng này được viết bởi một nhà thơ Zion chuyên viết bằng tiếng Hebrew. Nhà vật lý học và là nhà thơ Shaul Tchernichovsky sinh ra là người Nga, chết ở Jerusalem vào năm 1943, đã đặt bút viết câu đó trong một bài thơ nói về việc một trí tuệ non nớt đã xác định cuộc đời ông ta như thế nào – một khái niệm phân tâm học cơ bản. Cho dù nhìn chung có đúng hay sai khi viết lại ý của William Faulkner, bằng giá trị của một dĩ vãng mà, không bao giờ thực sự là quá khứ, và bằng việc gia công lại một cách tàn nhẫn những lắng đọng của tâm hồn thông qua nền văn hóa đại chúng của tiyulim – một bản chất đầy cảm xúc của người Israel trước các cuộc lữ hành vào chốn tự nhiên, vốn dĩ thẩm thấu trong những cuộc dã ngoại ở trường tiểu học, trung học, trường cấp ba, những lần nghỉ hè với gia đình và những cuộc hành quân – thì mối liên kết giữa Đứa trẻ Già và mảnh đất của anh ta đã thấm vào mọi tâm thức người Israel từ khi còn thơ ấu. Thêm nữa, như đã được những học giả người Israel Eyal Ben-Ari và Yoram Bilu thảo luận, những người Zion thời kỳ đầu, cũng như nhiều người định cư ở Bờ Tây ngày nay, đã tự chuyển biến mình bằng cách chuyển biến phong cảnh xung quanh, kết nối sâu xa hơn sự phát triển tâm lý của họ với sự phát triển của mảnh đất này.(86) Bởi vậy, chẳng có gì ngạc nhiên rằng từ nhạc pop đến nhạc rock, từ văn xuôi đến thơ ca, những truyện kể đầy tính sáng tạo của người Israel đều ăm ắp những khao khát mãnh liệt về vẻ đẹp của mảnh đất Israel, trong tâm thức người Israel, những khao khát ấy được khái quát hóa thành chủ đề về phong cảnh, bất cứ nơi nào có thể. Những người Israel chu du nước ngoài với tư cách còn hơn cả là những người đi du lịch, họ bị ám ảnh về việc tìm cho ra “khung cảnh” được ưa thích tốt nhất, cũng như những con đường, những điểm đến du lịch ít người qua lại nhất. Trong khi niềm ngưỡng mộ của họ đối với phong cảnh nước ngoài được đầu tư với một năng lượng cảm xúc đi kèm với sự lý tưởng hóa về mảnh đất của họ, thì họ cũng ghen tị với kho báu của những nước khác và miệt thị những gì mà cuối cùng họ biết rằng đó là bộ mặt thật của địa hình phong cảnh nước mình.

Mối liên kết của người Israel với Eretz Israel(87) không phải là một phát minh của người Israel. Đúng hơn, rõ ràng như bất cứ nẻo nào trong thế giới nội tâm của tâm hồn dân tộc Israel, đó là một sự tái tạo ngược đời, một sự rũ bỏ những mối dây ràng buộc 2000 năm với Đất Thánh. Thực sự là mặc dù người Do Thái đã bị thiếu quê hương, phải tha phương từ lần phá hủy Đền thờ thứ hai vào năm 70 sau Công nguyên, một trong những đặc điểm riêng biệt nhất của Do Thái giáo là tuyên bố về lãnh thổ của nó đối với một dải đất cụ thể có một không hai được hứa hẹn bởi thánh thần. Sử gia kiêm nhà văn người Israel, Sidra DeKoven Ezrahi, tranh luận rằng tuyên bố của Do Thái về Jerusalem là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của sự biểu đạt giàu tính lịch sử về thành phố này trong trí tưởng tượng nên thơ của người Do Thái. Bà chỉ ra, ngay từ đầu, ảo ảnh trong Kinh Thánh về thành phố này đã có một sự bốc đồng, sau này được phản ánh bằng thuật ngữ Zion, một trong những cái tên Thánh của Jerusalem, được mở rộng chỉ mảnh đất Israel nói chung. Từ cuộc phá hủy Đền thờ lần thứ hai, thành phố ngoài đời thực chẳng có một thực tế chính trị Do Thái gì – không đền thờ, không dân chủ hay bất cứ một dạng chủ quyền lãnh thổ nào khác. Như DeKoven Ezrahi đã thấy, bước vào trong sự thiếu vắng đó và cách rất xa khỏi tự bản thân ngôi đền bị phá hủy, có một sự thành công của những nhà thơ và nhà văn Do Thái từ thuở cổ xưa ấy, qua cả thời Trung cổ, và hết cả con đường dẫn đến chủ nghĩa Phục quốc Zion, đã bảo tồn Jerusalem như một biểu tượng. Như DeKoven Ezrahi, A. B. Yehoshua và những người khác đã chỉ ra, họ làm việc này một phần thông qua việc nhân cách hóa Jerusalem và Eretz Israel như một người phụ nữ – một người mẹ, một người vợ hay một tình nhân. Gắn chặt với giả thuyết về cuộc nổi loạn ơ-đip đã đề cập ở trên, văn học và truyện thơ về Zion tràn ngập những tuyên bố của người tình nhân nam về chủ quyền với mảnh đất này. Dòng mạch ái kỷ được phân tích này gợi ra nằm trong việc đánh giá những biểu tượng và ý tưởng trên nền thực tế.(88)

Như đã được nhà tâm lý học người Israel Avner Falk bàn luận chi tiết, từ góc nhìn phân tâm học hậu Freud, câu chuyện lịch sử mang tính văn học này đã phản ánh tư tưởng rằng việc đánh giá quá cao mang tính ái kỷ về Jerusalem được nhấn mạnh bởi sự yếu kém trong việc khóc thương về nỗi mất mát nó. Theo thuyết này, nỗi nhục nhã vì mất đi chủ quyền ở Đất Hứa đối với những người được lựa chọn là quá sức chịu đựng(89). Đi cùng với sự phỉ báng, hắt hủi và đày đọa mà sau này họ phải chịu đựng trong thời kỳ Diaspora, nó đã tạo nên một sự ấm ức quyết liệt: Tại sao tất cả những chuyện này lại xảy đến với chúng ta? Câu trả lời đến từ những cuốn sách kinh cầu và những văn bản mang tính tôn giáo với những lý giải kiểu như đó là sự trừng phạt mà Chúa trời ban cho ta hoặc đó chỉ là một thử thách, Chúa không bỏ rơi những đứa con mà ngài yêu mến, và rằng một ngày nào đó, Chúa của chúng ta, vị Chúa duy nhất, sẽ mang chúng ta về nhà, rồi cuối cùng, chuyện này không thực sự xảy ra, vì Jerusalem là một vùng đất tâm linh, không phải là vùng đất thực, nó sẽ mãi mãi ở trong trái tim chúng ta. Thay vì chấp nhận và than khóc cho sự mất mát này, từ thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, người Do Thái lải nhải mãi những lời kinh cầu như vậy, cố gắng chạy trốn khỏi những cảm giác nhục nhã và vô dụng bằng cách bám víu vào những khái niệm mộng tưởng, có lớp lang về một quá khứ huy hoàng và một ngày trở về trong tương lai. Rồi, khi những điều kiện lịch sử khiến giấc mộng phục quốc trở thành hiện thực hội tụ, cái túi quyền năng ái kỷ vô hạn này, một phiên bản của những gì nhà phân tâm học Heinz Kohut gọi là cái tôi vĩ đại, bùng nổ trên mặt đất của vùng Palestine. Bị tác động đột ngột bởi những tàn dư vô thức của sự xấc xược thời thơ dại mà chúng ta đã đem vào tuổi trưởng thành, những người Zion thời đầu tìm cách xóa bỏ lịch sử mất mát và nhục nhã của người Do Thái và tìm cách thay thế bằng một sự nhìn nhận chính mình như là nòi giống của những anh hùng Do Thái cổ đại.

Bây giờ, chúng ta hãy cùng kết luận rằng thời kỳ đầu, hoặc cũng như hiện nay, ảo ảnh của những người Zion mang tính bệnh lý di truyền, nên lưu ý rằng Kohut, một trong những nhà phân tích có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20, tin rằng chủ nghĩa ái kỷ về cơ bản là một khía cạnh phát triển lành mạnh, chỉ biến thành bệnh hoạn khi trở nên cực đoan. Và sự thực là, cơ chế phòng vệ này từng là một câu chuyện thành công rực rỡ, đặc biệt khi Yishuv và sau này là nhà nước Israel non trẻ là một cộng đồng nhỏ xíu vũ trang thiếu thốn chiến đấu gan dạ và xuất sắc để giành quyền sinh tồn. Nhưng từ đầu, công cuộc phục quốc thực sự chỉ là cái vỏ bề ngoài. Chưa đến 2% người Do Thái Đông Âu di cư vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 lựa chọn Palestine như là điểm đến của họ, và trong số này, nhiều người đã không ở lại. Phần đa số, khoảng 2,5 triệu người, chọn một điểm đến rõ ràng hơn là Hoa Kỳ.(90)

Trong một vài thế kỷ vừa qua, nhiều người Israel đã thử rũ bỏ tất cả những điều này, hoặc từ những gì DeKoven Ezrahi gọi là thi pháp về sự trở về Jerusalem. Trong lời bình luận của bà liên quan đến một trong những nhà thơ được yêu thích và nổi tiếng nhất của Israel:

“Trong thơ của Yehuda Amichai, trải suốt nửa sau của thế kỷ 20, chúng ta tìm thấy một vài câu trả lời cho những câu hỏi đã sống sót qua mùa khao khát của chúng ta: không phải làm thế nào để mong chờ héo hon mà là làm thế nào để sống trong thành phố này; làm thế nào để từ bỏ một vài phần tình yêu cho thành phố để dành cho tình yêu trong thành phố.”(91)

Nhưng như họ đã cố gắng nhất có thể, đối với hầu hết những người Israel, ý niệm về Jerusalem và về mảnh đất Israel nói chung vẫn đánh lừa thực tế; và việc yêu thương ấy vẫn tràn ngập, nếu không nói là hất cẳng hoàn toàn, sự sống. Có một sự phát triển trực tiếp từ niềm khát khao nên thơ thời trung cổ của Yehuda Halevy(92) đối với một mảnh đất mà những hạt cát của nó gây khoái cảm dễ chịu trong miệng còn hơn cả mật ong, đến sự tôn vinh của Bialik(93) về một mảnh đất mà mùa xuân trang hoàng vĩnh hằng, và những quyết định của chính phủ Israel được mối dây thân tình dẫn dắt với Eretz Israel hơn là bởi chính sách hoặc thậm chí là bởi những lưu ý về mặt chính trị. Ví dụ rõ ràng nhất là quyết định hấp tấp chinh phục Thành Cổ Jerusalem vào năm 1967, đã được thông qua, như TomSegev đã đưa ra tư liệu, mà không có một quy trình và sự tranh luận thích đáng nào. Niềm hứng khởi say sưa gần như là thất thường kết hợp với quyết định ấy đã được trình bày rõ ràng trong những bài luận sau này của Mordechai Gur, vị tướng quân chỉ huy cuộc đột kích đó. Miêu tả cảm giác của ông lần đầu tiên bước vào Núi Đền, nơi thánh đường Hồi giáo Mái Vòm Đá đã chiếm cứ cả vị trí được cho là nơi ngôi đền cổ xưa tọa lạc, Gur viết: “Ở đây, tôi cảm giác như ở nhà. Khao khát của chúng tôi. Núi Đền! Núi Moriah. Abraham và Isaac. Ngôi đền. Zealots, Maccabees, Bar Kokhba, người La Mã và người Hi Lạp. Tất cả bọn họ đều quần tụ về trong trí tôi.”(94)

Trong khi ở đâu đó khác có phần bớt căng thẳng hơn, trạng thái phấn chấn như thế này không chỉ bó hẹp đối với Jerusalem hay những khu vực có các di tích tôn giáo ý nghĩa. Trong suốt cuộc chiến này, có tin Thủ tướng Eshkol đã nói rằng: “Tôi có một khao khát tột bậc với dải đất Gaza, có lẽ vì Samson và Delilah.”(95) Một đam mê với một rẻo đất cằn cỗi, đông đúc, chen chúc dân Palestine tị nạn và những ống cống mở hoang hoác; một niềm khát khao rõ ràng là dựa trên sức hấp dẫn của một siêu anh hùng trong Kinh Thánh và người tình đã hủy diệt quyền năng của anh ta bằng cách cắt đi mái tóc của anh ta! Một trong những địa điểm ở Israel mà tôi yêu thích nhất cũng kết nối với, nói theo kiểu Kinh Thánh, một ngày tóc tai rối bời. Nép mình ở một làng Ả Rập ngay bên ngoài thành Jerusalem được quây tường kín là Yad Avshlom, một lăng mộ lớn bị hiểu nhầm một cách tai hại là nơi chôn cất người con trai yêu dấu của Vua David, Avshalom. Một hoàng tử đẹp trai với bộ tóc dài, Avshalom đã chỉ huy thất bại một cuộc binh biến chống lại vua cha, và khi ông anh đang chạy trốn trên lưng một con lừa, tóc của anh ta bị vướng vào một đám những cành cây cổ thụ. Thế là anh ta bị treo lên để rồi bị một tướng lĩnh của vua cha giết hại, vi phạm mệnh lệnh của vị vua là “tha cho thằng bé”. Thế tục như những mối gắn bó thế này có thể, về cảm xúc mà nói, chúng chẳng phải là tất cả những thứ khác biệt so với những mối gắn kết của những kẻ định cư sùng đạo tuân theo lề thói khắt khe, những người đã thề thốt là sẽ không bao giờ rời bỏ những thị trấn và làng mạc của họ, đặt ở trái tim đất Judea và Samaria trong Kinh Thánh, ngoài ra còn được biết như Bờ Tây.

Phân tích của Falk liên quan đến việc người Do Thái không thể than khóc cũng có ý nghĩa, nhưng nó không phải là toàn bộ câu chuyện. Một trong những cuộc cãi vã đầu tiên với vợ tôi – người đã lớn lên trong một gia đình Do Thái Mỹ truyền thống, luôn kỷ niệm những ngày lễ, và thậm chí còn đến thăm lại Israel khi cô ấy 18 tuổi – bùng nổ khi cô ấy nói rằng là một người Do Thái, cô ấy không có liên kết cảm xúc nào với Israel. Cô ấy còn nói nhiều nữa rằng với một người Do Thái Mỹ, điều này chẳng có gì đặc biệt. Tôi đơn giản là không thể nuốt nổi chuyện này, thậm chí là cho dù lúc ấy tôi đã sống ở Mỹ đến gần một thập kỷ. Có thể chăng, từ một lập trường mang tính cảm xúc, Eretz Israel của những lời kinh cầu, những tích truyện về các ngày lễ, và lịch sử của người Do Thái chẳng liên quan tới nơi chốn thực sự này? Nhìn lại, tôi nhận ra rằng cô ấy không phải là người khó hiểu, dị thường, và có lẽ giống như phản ứng của tôi, phân tích của Falk là hơi đặt Israel làm trọng tâm. Nhìn rộng ra, danh tính quốc gia dân tộc Do Thái được định dạng bên ngoài mảnh đất địa lý vốn được khao khát của ông cha. Trong câu chuyện Kinh Thánh, người Do Thái nhận được kinh Torah và trở thành một dân tộc ở Sinai, trên đường họ trở về đất hứa. Người Do Thái đầu tiên, Abraham, tuân theo lời Chúa, rời quê hương bản quán không chỉ một mà là hai lần, bao gồm cả lần ông ta được Chúa hứa hẹn. Và cháu trai của ông ta, Jacob, cùng con cháu mình rời đến Ai Cập, không bao giờ quay trở lại. Như trong lịch sử, chỉ 40 năm sau cuộc phá hủy Đền thờ thứ nhất, khi hoàng đế Ba Tư gọi những người Do Thái trở về Judea và tái kiến thiết ngôi đền, nhiều người đã không để tâm đến ông, thích ở lại những cộng đồng mà họ mới thích nghi được hơn. Hơn nữa, trái với điều người ta vẫn tin, sau khi Đền thờ thứ hai bị phá hủy, người La Mã chưa bao giờ trục xuất người Do Thái. Đúng hơn là, ước tính khoảng 2 triệu người Do Thái sống ở Eretz Israel vào lúc đó đã dần dần tự nguyện rời đi, hầu hết là sau cuộc nổi dậy Bar Kokhba thất bại. Cũng chẳng phải người Do Thái bị ngăn cản không được hồi hương trong khoảng 1500 năm tiếp theo sau sự sụp đổ của đế chế La Mã. Trong phiên bản người Do Thái lang thang của chính người Israel, ngược lại với chính mối găn bó được lý tưởng hóa của họ với mảnh đất của mình, hiện nay đã có đến 750.000 người Israel Do Thái, ít nhất 10% dân số Do Thái hiện thời ở Israel, định cư ở nước ngoài.(96)

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Tâm Thức Israel”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
Close