Tiền Không Mua Được Gì

(5 đánh giá của khách hàng)

Sách nói về những điều trong cuộc sống hằng ngày tưởng chừng như hết sức đơn giản nhưng khi nhìn chúng dưới một khía cạnh khác thì nó lại hoàn toàn trở nên phức tạp và rất khó lý giải. Tác giả đã đưa ra những trường hợp cụ thể, nêu lân những quan điểm theo nhiều khía cạnh khác nhau để nhìn nhận một vấn đề. Để cho mọt người đọc cùng suy ngẫm và đặt mình vào trong những con người ở những vị trí khía cạnh đó để xem xét sự việc. Khi đọc xong mỗi người sẽ tự rút ra được những bài học khác nhau tùy vào cách cảm nhận và tiếp cận vấn đề của mỗi người.

Trong cuốn sách này, Michael J. Sandel đặt ra một trong những câu hỏi về đạo đức quan trọng nhất của thời đại chúng ta: Có vấn đề gì đang xảy ra với thế giới này khi mọi thứ đều có thể mua được bằng tiền? Làm sao chúng ta có thể ngăn các giá trị thị trường khỏi xâm nhập vào những lĩnh vực của đời sống vốn không bị chi phối bởi các giá trị thị trường? Đâu là giới hạn đạo đức của thị trường? Trong những thập niên gần đây, các giá trị thị trường ngày càng lấn át các chuẩn mực phi thị trường trong hầu hết các mặt đời sống.

Sandel lập luận rằng, nếu chúng ta không sớm nhận ra điều này, chúng ta sẽ biến từ có một nền kinh tế thị trường sang trở thành một nền kinh tế thị trường. Trong Phải trái đúng sai, Sandel đã cho thấy khả năng bậc thầy trong việc mô tả một cách sáng tỏ mà hùng hồn những vấn đề đạo đức hóc búa mà chúng ta phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày. Giờ đây, trong Tiền không mua được gì?, tác giả lại một lần nữa làm dấy lên cuộc tranh luận mà kỷ nguyên do thị trường định hướng của chúng ta chưa nghĩ tới, đó là: vai trò đích thực của thị trường trong một xã hội dân chủ là gì, và chúng ta phải làm gì để bảo vệ các giá trị đạo đức mà thị trường không coi trọng và tiền không thể mua được?

Tác giả

Trích đoạn sách hay

TRẢ TIỀN CHO NGƯỜI TRIỆT SẢN

Mỗi năm, có hàng trăm nghìn em bé có mẹ nghiện ma túy được sinh ra. Một số bé bị nghiện ma túy bẩm sinh, và rất rất nhiều bé sẽ bị ngược đãi hoặc không được quan tâm. Barbara Harris, người sáng lập một tổ chức từ thiện ở bang North Carolina có tên là Project Prevention đã đưa ra một giải pháp mang tính thị trường. Bà đề nghị trả cho những người phụ nữ nghiện ma túy 300 dollar tiền mặt nếu họ chấp nhận triệt sản hoặc áp dụng biện pháp tránh thai lâu dài. Hơn 3.000 phụ nữ đã tham gia chương trình của bà kể từ khi nó ra đời năm 1997[64].

Những người phản đối cho rằng chương trình này “tội lỗi về mặt đạo đức”, một dạng “hối lộ để triệt sản”. Theo họ, dùng động cơ tài chính để xúi giục người nghiện ma túy từ bỏ khả năng sinh sản thực chất là ép buộc họ, đặc biệt khi đối tượng của chương trình là những phụ nữ dễ bị tổn thương, sống ở khu vực nghèo khổ. Thay vì giúp đỡ họ vượt qua chứng nghiện ngập thì chương trình lại dùng tiền để bao cấp họ. Như câu khẩu hiệu được in trên một tờ rơi của chương trình: “Đừng để việc mang thai ảnh hưởng đến thói quen nghiện ngập”[65].

Harris cũng thừa nhận rằng khách hàng của bà dùng tiền nhận được để mua ma túy. Nhưng bà tin rằng đây là cái giá rẻ phải bỏ ra để ngăn chặn tình trạng các em bé sinh ra đã nghiện ma túy. Một số phụ nữ tham gia chương trình đã từng mang thai cả chục lần trước đó, rất nhiều người đã có nhiều con và đều phải gửi đến trung tâm chăm sóc trẻ em bị bỏ rơi. Harris đặt câu hỏi: “Tại sao lại cho rằng quyền sinh sản của phụ nữ quan trọng hơn quyền được hưởng một cuộc sống bình thường của trẻ em?” Quan điểm của bà xuất phát từ chính kinh nghiệm bản thân. Vợ chồng bà đã nhận bốn con nuôi ở Los Angeles, đều là các bé có mẹ nghiện hút. “Tôi sẽ làm mọi điều tôi phải làm để các em bé không phải chịu khổ. Tôi không tin rằng có ai lại có quyền truyền sự nghiện ngập của mình sang người khác” [66].

Năm 2010, Harris đem chương trình tới Anh, nơi ý tưởng trả tiền để người nghiện triệt sản của bà gặp phải sự phản đối dữ dội của báo chí và Hiệp hội Y khoa Anh. Một bài báo trên tờ Telegraph gọi đây là một “đề xuất đáng ghê sợ”. Không nản chí, Harris tiếp tục mở rộng hoạt động sang Kenya, nơi bà trả cho mỗi phụ nữ dương tính với HIV 40 dollar để họ đặt vòng – một công cụ tránh thai lâu dài. Ở Kenya và Nam Phi, nơi Harris dự kiến sẽ đến, các quan chức y tế và các nhà hoạt động vì nhân quyền đều lên tiếng chê bai và phản đối bà [67].

Từ quan điểm lập luận thị trường, khó có thể hiểu tại sao chương trình của Harris lại bị chỉ trích. Mặc dù một vài nhà phê bình cho rằng nó khiến họ nhớ đến thuyết ưu sinh của Đức Quốc xã, nhưng chương trình trả-tiền-cho-người-triệt-sản là một dạng thỏa thuận tự nguyện giữa các cá nhân. Nhà nước không tham gia chương trình, và không ai bị triệt sản trái với mong muốn. Một số người thì giải thích là những người nghiện ma túy rất muốn có tiền, và họ không thể đưa ra lựa chọn thực sự tự nguyện khi được cho tiền dễ dàng như vậy. Harris đáp lại rằng nếu người nghiện thiếu năng lực xét đoán đến mức ấy thì làm sao chúng ta có thể hy vọng họ sẽ có những quyết định đúng đắn liên quan đến việc sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái? [68]

Nếu nhìn theo quan điểm mua bán trên thị trường thì thỏa thuận giữa Project Prevention và người nghiện đã tạo lợi ích cho cả hai bên và làm gia tăng phúc lợi xã hội. Người nghiện được nhận 300 dollar, đổi lại họ từ bỏ khả năng sinh con. Với 300 dollar bỏ ra, Harris và tổ chức của bà nhận được sự đảm bảo rằng người nghiện sẽ không sinh ra một em bé nào bị nghiện ma túy bẩm sinh nữa. Theo logic thị trường, thỏa thuận trao đổi này hiệu quả về mặt kinh tế. Nó đã phân bổ hàng hóa – ở đây là biện pháp tránh thai cho người nghiện – đến người sẵn lòng trả giá cao nhất cho hàng hóa đó, và cũng là người đánh giá hàng hóa đó cao nhất (tức là Harris).

Vậy tại sao xã hội lại ồn ào lên thế? Vì hai lý do, và chúng sẽ soi sáng cho ta thấy được hạn chế về mặt đạo đức của lập luận thị trường. Một vài người cho rằng thỏa thuận trả-tiền-cho-người-triệt-sản là một dạng ép buộc, người khác lại gọi đây là hành vi hối lộ. Hai lập luận phản đối này thực chất rất khác nhau. Mỗi lập luận nêu ra một lý do cho việc ngăn không cho thị trường vươn tầm ảnh hưởng tới những nơi không phải chỗ của nó.

Theo lập luận phản đối sự ép buộc, khi một phụ nữ nghiện ma túy đồng ý triệt sản để có tiền thì đây không phải một quyết định tự nguyện hoàn toàn. Mặc dù không ai kề súng vào đầu ép buộc cô ta, nhưng dường như tiền là một thứ quá quyến rũ, khó có thể cưỡng lại. Với người nghiện ma túy – trong hầu hết các trường hợp, họ cũng là người nghèo – hành động chọn triệt sản để có 300 dollar không thực sự là tự nguyện. Thực tế, có thể cô ta bắt buộc phải làm như vậy vì tình trạng cuộc sống hiện tại. Tất nhiên, chúng ta không nhất trí được với nhau về việc trong điều kiện nào, nguyên nhân nào khiến cô ta bị ép buộc phải quyết định. Nên để đánh giá đúng ý nghĩa đạo đức của một giao dịch trên thị trường, trước tiên chúng ta phải trả lời câu hỏi: Trong điều kiện nào thì giao dịch trên thị trường hàm ý con người được tự do đưa ra quyết định, và điều kiện nào dẫn đến họ phải quyết định trong tình trạng bị ép buộc?

Lập luận phản đối hành vi hối lộ lại khác. Vấn đề không phải giao dịch diễn ra trong điều kiện nào mà là bản chất của loại hàng hóa được đem ra giao dịch. Hãy xem một tình huống hối lộ điển hình. Nếu có một nhân vật xấu hối lộ một thẩm phán hoặc một quan chức chính phủ để thu lợi bất chính hoặc để được ưu ái thì giao dịch xấu này có thể hoàn toàn là tự nguyện. Cả hai bên đều không bị ép buộc, và cả hai đều có lợi. Lý do khiến nó bị phản đối không phải vì hai người bị ép buộc thực hiện giao dịch mà vì nó là một hành vi tham nhũng. Tham nhũng còn có nghĩa là mua bán những thứ không nên đem ra trao đổi (ví dụ một phán quyết thiên vị ở tòa án hay ảnh hưởng chính trị trên chính trường).

Chúng ta thường nghĩ tham nhũng là hành vi đưa tiền trái phép cho quan chức nhà nước. Nhưng như đã nói ở chương 1, tham nhũng có ý nghĩa rộng hơn. Chúng ta tham nhũng một hàng hoá, một hoạt động, một hành vi xã hội có nghĩa là chúng ta đối xử với chúng theo những chuẩn mực thấp, không phù hợp với chúng. Lấy một ví dụ thật cực đoan: người nào sinh con ra để bán kiếm tiền thì tức là người đó đã tham nhũng tư cách làm cha mẹ vì đã coi trẻ em là công cụ sử dụng thay vì đối tượng để yêu thương. Tham nhũng chính trị cũng có thể được nhìn nhận tương tự. Khi một vị thẩm phán nhận tiền hối lộ để đưa ra phán quyết sai, ông ta đã coi quyền tư pháp của mình là công cụ để kiếm lợi cá nhân thay vì là công cụ để duy trì niềm tin của xã hội. Ông ta đã làm xói mòn, làm mất ý nghĩa của nghề tư pháp khi đối xử với nó theo những chuẩn mực không xứng đáng.

Tham nhũng nghĩa rộng chính là nguyên nhân khiến nhiều người cho rằng chương trình trả-tiền-cho-người-triệt-sản là một dạng hối lộ. Những người gọi đây là hành vi hối lộ cho rằng bất kể thỏa thuận diễn ra là tự nguyện hay không, nó vẫn là tham nhũng. Lý do là cả hai bên – người mua (tức Harris) và người bán (người nghiện ma túy) – đã đánh giá hàng hóa (khả năng sinh con của người nghiện) theo cách sai lầm. Harris coi những phụ nữ nghiện ma túy và dương tính với HIV như thể những cỗ máy sinh sản bị lỗi và có thể bỏ tiền ra tắt chúng đi. Những người chấp nhận thỏa thuận với Harris đã tự làm xói mòn hình ảnh của chính mình. Đây là khía cạnh đạo đức của lập luận cho rằng Harris đang hối lộ. Giống như vị thẩm phán hay quan chức nhà nước tham nhũng, những người đi triệt sản để có tiền đã bán một thứ không nên đem ra mua bán. Họ coi năng lực sinh sản của mình là công cụ kiếm tiền chứ không phải một món quà, một trách nhiệm phải thực hiện theo chuẩn mực trách nhiệm và quan tâm thông thường.

Ngược lại, cũng có thể lập luận rằng so sánh như vậy là sai. Vị thẩm phán nhận tiền hối lộ để đưa ra phán quyết sai đã bán cái không thuộc quyền sở hữu của ông ta. Phán quyết tại tòa không phải tài sản của ông. Nhưng người phụ nữ đồng ý triệt sản để có tiền đã bán cái mà cô ta sở hữu – tức năng lực sinh sản của cô. Nếu không có sự xuất hiện của tiền ở đây thì cô ta không hề sai khi quyết định triệt sản (hoặc không sinh con); còn vị thẩm phán thì sai khi đưa ra một phán quyết bất công, bất kể ông ta có được hối lộ hay không. Nhiều người sẽ cho rằng nếu một phụ nữ có quyền từ bỏ khả năng sinh con của mình vì lý do cá nhân thì cô ta cũng hoàn toàn có quyền làm điều đó để có tiền.

5 đánh giá cho Tiền Không Mua Được Gì

  1. Đào Hưng

    Tiêu đề quyển sách có thể gây hiểu nhầm đối với những độc giả hiếu kỳ cũng như những người chỉ lướt quá. Có thứ gì mà tiền không thể mua được trên thế gian này chứ. Chương đầu dẫn nhập đem lại cho người đọc rất nhiều ví dụ về tiền có thể mua được gần như mọi thứ (từ quyền sinh con, quyền săn bắn tê giác, thậm chí mua được cả lá phiếu bầu cử…). Chương 2 tác giả giúp đưa ra 2 khái niệm đang còn nhiều tranh cãi hiện nay: “Tiền không mua được gì” và “Có thứ gì tiền mua được nhưng không nên mua” … Lối viết rõ ràng, cụ thể kèm theo chú thích chi tiết của tác giả giúp người đọc dễ dàng theo dõi. Một điểm nổi bật của quyển sách này với những quyển sách cũng loại đó chính là việc tác giả đưa ra từng luận điểm về từng vấn đề cụ thể và giải quyết ngay tại chỗ chứ không nợ hay né…

  2. Minh Thư

    Tiền không mua được gì? Đừng hi vọng tác giả trả lời thẳng thắn cho bạn rằng đồng tiền thực sự không mua được gì. Triết lý là những gì bạn tự chiêm nghiệm được đi từ góc nhìn của tác giả đến góc nhìn của bạn. Đạo đức con người sẽ cho phép giới hạn của đồng tiền đi đến đâu. Cuốn sách này thật sự rất hay và cho ta nhiều kiến thức nhưng không phải đọc để giải trí , đọc để hiểu liền, để kể cho nhau nghe…mà đọc để suy nghĩ, góp nhặt thêm nhiều điều bổ ích cho trí tuệ mỗi người.

  3. Anh Duy

    Một trong những biệt tài Michael Sandel là có thể biến những tranh luận cũng như những học thuyết triết học khô khan thành những câu chuyên hết sức “giật gân” kiểu Mĩ.
    Sandel vẫn tiếp tục lối viết cũ . Nếu như bạn đã có dịp xem qua cuốn ” Phải trái đúng sai” . Thì Sandel vẫn “thả” người đọc vào thế lưỡng nan. Giưa 2 tình huống khó giải quyết. Ông không hề áp đặt một cách giải quyết nào khả dĩ cả mà buộc người đọc phải tự đưa ra nhận xét của mình dự vào “đạo đức” của mỗi người.
    Một cuốn sách dễ đọc đối với hầu hết mọi người nhưng vẫn thực sự khó khăn với một số ít chưa đọc qua cuốn “Phải Trai Đúng Sai” của ông hoặc chưa có hình dung cụ thể nào về triết học (thuyết công lợi,…).
    Một vấn đề nữa là tên cuốn sách là “What money can’t buy” nhưng lại được dịch với tựa đề khó hiểu “Tiền Không Mua Được Gì” đã biến cuốn sách theo một hướng hoàn toàn khác so với một tựa sách hoàn toàn theo hướng mở.

  4. An Nhiên

    Trong một cuốn sách trước của tác giả Michael J. Sandel, cuốn “phải trái đúng sai”, tôi đã đọc, những cảm xúc đầu tiên của tôi về nó thật lạ lùng, tư duy của tôi được khai mở, tôi như kẻ cô độc trong chiếc bình đóng kín cho đến khi đọc nó, những gì cuốn sách mang lại là những góc nhìn dưới con mắt của đạo đức và kinh tế, rằng sự lên ngôi của đồng tiền luôn nằm trong những quy chuẩn đạo đức, ảnh hưởng của nó không thể đo lường bằng những công cụ mà bằng con mắt và trí tuệ của con người. Tôi tiếp tục tìm đọc những tác phẩm khác nhưng tạo thêm một ấn tượng mới đó là cuốn sách đồng tác giả, cuốn “Tiền không mua được gì?”, có những thứ người ta tìm cách gán cho nó một giá trị quy đổi, nhưng có những thứ khi gán cho nó một giá cả, nó dường như bị hạ thấp giá trị, và giá trị con người khi bị dán nhãn giá, con người không còn là chính mình, cuốn sách với tiêu đề triết lý nói lên điều tác giả muốn gửi gắm, đây thực sự là cuốn sách khiến nhân loại phải nhìn về những giá trị vĩnh hằng.

  5. Khương Duy

    Cuốn sách này bàn về chuyện tiền bạc làm hủ bại nhiều giá trị tinh thần. Trong cuốn này, Sandel vẫn dùng phương pháp mà mọi người đã quen thuộc trong loạt bài giảng Justice: What’s the Right Thing to Do?: đưa ra vấn đề, sau đó đưa tiếp lập luận ủng hộ hoặc phản đối của người khác, và cuối cùng dùng lập luận chính mình để bẻ gãy lập luận trước.
    Nói chung cuốn này đọc được, nhiều ví dụ thực tế nên đọc thấy gần gũi, thú vị, mà cũng nhờ nhiều ví dụ ngoài đời thực nên ta có thể thấy được thế giới lắm trò đến mức nào. Hơn nữa, đây là một cuốn dễ đọc cực kì, gần như chẳng có gì khiến người đọc (ở đây là tui) phải ngừng lại để băn khoăn này nọ, phải nói là dễ đọc hơn nhiều so với cuốn Justice kia (vốn đậm chất triết học hơn). Tuy nhiên, ý tưởng truyền tải trong sách lại quá sức ít ỏi. Toàn bộ cuốn sách dường như là một tập hợp các ví dụ được tác giả chọn lọc có chủ đích nhằm minh hoạ cho lập luận và ý tưởng của mình.

    Tóm lại, nó chỉ đọc được, chớ không thoả mãn (ít nhứt là đối với tui).

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
Close