Sách mới

Lời tựa một tình yêu

loi tua

Lời tựa một tình yêu

Tác giả: Trần Mai Hạnh
Phát hành: 10-2016
Thể loại: Sách Văn Học – Tiểu Thuyết
Nhà xuất bản: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
Nhà phát hành: Thái Hà
Số trang: 244
Phiên bản : Tiếng Việt

Lời tựa một tình yêu là một tác phẩm cảm động, chân thực, sâu sắc viết về tình yêu thủy chung son sắt của người tử tù lừng danh Lê Hồng Tư và nữ chiến sĩ cách mạng kiên trung Nguyễn Thị Châu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Họ đến với nhau trong bão táp cách mạng. Kể từ lúc ngỏ lời cho đến lúc hội ngộ, hạnh phúc trong lễ cưới sau ngày đất nước toàn thắng là 15 năm xa cách, đầy giông tố, thử thách và hy sinh. Họ bị giam cầm, đày đọa qua hàng chục nhà tù, riêng ông Lê Hồng Tư bị cầm tù 15 năm, trong đó trọn 13 năm ở Côn Đảo với án tử hình. Và hiện tại, họ vẫn sống hạnh phúc bên nhau và tiếp tục làm đẹp cho đời.

Công bố Lời tựa một tình yêu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự và Thái Hà Books thật mong muốn “Bản tình ca nồng thắm gắn liền với lý tưởng cao đẹp của tuổi trẻ, của những con người thủy chung son sắt trong tình yêu, sống, chiến đấu và sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập, tự do và sự thống nhất vẹn toàn của Tổ quốc… sẽ thổi bùng lên niềm tin, ngọn lửa bất diệt mà những người trẻ hôm nay lấy đó để soi rọi, tin yêu, sống và cống hiến”.

Trong lời tựa mở đầu cuốn sách, nhà báo Đỗ Phượng, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam và là thủ trưởng trực tiếp từng nhiều lần cử tác giả vào mặt trận, chiến trường và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã viết: “Ấn tượng mạnh nhất khi đọc Lời tựa một tình yêu là sự xúc động, tin cậy, ám ảnh và ngưỡng mộ. Bản tính cẩn trọng, khách quan của một nhà báo và phẩm chất văn chương trong sự dung tưởng phong phú của một nhà văn hoà quyện trong tác phẩm với 12 chương và hơn 200 trang sách. Hoàn cảnh điển hình, tình tiết điển hình, phẩm chất và tính cách điển hình của nhân vật được kết cấu, khắc họa tinh tế bởi một giọng văn giản dị, trầm tĩnh, chan chứa lòng tin yêu cuộc sống đã khiến Lời tựa một tình yêu có sức cuốn hút và lay động mạnh mẽ lòng người. Nếu xem đây là lời tựa, thì với tôi, cũng như tên tác giả chọn đặt cho tác phẩm của mình, đây là lời tựa cho một tình yêu – tình yêu đất nước, tình yêu lý tưởng, tình yêu đôi lứa của hai chiến sĩ cộng sản với niềm tin mãnh liệt ở tương lai đã vượt qua sự xa cách đằng đẵng của cả thời gian và không gian, vượt qua những năm tháng giam cầm tra tấn của kẻ thù, vượt qua sắt thép, hiểm nguy và vượt qua cả cái chết để đến với nhau trong một mối tình thuỷ chung, trong sáng như một huyền thoại”.

Những bức ảnh tư liệu giá trị trong thời gian hoạt động cách mạng của ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu (1953-1975) và ảnh bà Nguyễn Thị Châu chụp với tác giả Trần Mai Hạnh trong những ngày đầu tiên Sài Gòn giải phóng (tháng 5/1975) ngay tại cửa phòng giam số 4, bốt Nguyễn Tri Phương, nơi bà Châu bị địch bắt giam, tra tấn lần cuối tới trưa ngày 29/4/1975 mới được trả tự do, in trong phần phụ lục, đã tôn thêm tầm tư tưởng, giá trị thuyết phục và sức lay động của tác phẩm.

Thông tin về tác giả:

Trần Mai Hạnh

Từng là phóng viên của Thông tấn xã Việt Nam ở chiến trường miền Nam, đầu năm 1975, nhà báo, nhà văn Trần Mai Hạnh được cử tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với nhiệm vụ là phóng viên đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam. Những ngày đầu tiên của Sài Gòn giải phóng, tác giả có cơ duyên gặp và có thời gian dài làm việc với ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu. Tài liệu để tác giả “hóa thân” xây dựng nên tác phẩm này do ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu trực tiếp cung cấp, kể lại và có tham khảo những tài liệu liên quan đến tình hình miền Nam và phiên toà Mỹ-Diệm xử tử hình ông Lê Hồng Tư và Lê Quang Vịnh ngày 23/5/1962 mà Trung tâm Thông tin-Tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam còn lưu giữ. Đặc biệt tác giả đã tới hơn chục nhà tù mà ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu từng bị giam giữ, trong đó có bốn chuyến trở lại Côn Đảo tới những hầm đá, chuồng cọp, lao cấm cố ông Lê Hồng Tư từng bị giam cầm tra tấn và từng vượt ngục để tìm thêm tài liệu, bổ sung, hoàn thiện cuốn tiểu thuyết về tình yêu mà mình ôm ấp.

Trích dẫn :

Má! Dừng lại một chút đã, nghe má! Vừa tới ngang ngôi trường nhỏ, cô bé đã níu áo, nằn nì mẹ đứng lại. Bà mẹ chần chừ một chút rồi đặt gánh cá xuống vệ đường. Cô bé rón rén đến bên cửa sổ, kiễng chân nhìn vào tấm bảng đen trên lớp, nhẩm đánh vần theo nhịp thước của ông giáo già.

Nhà nghèo, mới bảy tuổi đã phải tần tảo theo mẹ đi bán cá ở chợ Biên Hòa, quyển vở, cái bút với cô là một cái gì rất xa xôi – xa xôi tới mức chưa bao giờ cô dám mơ ước tới.
Bà mẹ nhìn con mà ứa nước mắt.
– Châu! Đi thôi con. Trưa rồi!

Không biết đã bao lần, bà lại phải dằn lòng gọi con như vậy. Cô bé tất tả chạy theo mẹ, vừa chạy vừa ngoái lại ngôi trường với vẻ tiếc rẻ của trẻ con cùng chút ít đăm chiêu vượt xa lứa tuổi.
Năm năm sau, vào một buổi tối, cô thưa với mẹ, lời lẽ chững chạc như một người lớn:
– Thưa má, con đã học xong bậc tiểu học.Con xin phép má được lên Sài Gòn thi vào trường Gia Long.
Bà mẹ kinh hãi: Trời, nó mới mười hai tuổi đầu, chưa cắp sách tới lớp lấy một ngày mà dám cả gan thi vào trường nữ trung học lớn và danh tiếng nhất Sài Gòn.

Cô bé vẫn đứng nghiêm trang trước mặt mẹ, mắt mở to chờ đợi. Bà mẹ hết nhìn con lại nhìn những quyển vở xếp ngay ngắn ở góc bàn. Đêm nào nó cũng học. Mà con bé thật ngoan, chiều ở chợ về buông gánh là chúi đầu lo toan mọi chuyện. Nhiều bữa việc nhà xong đã khuya, nó vẫn ngồi vào bàn chăm chú đọc đọc, viết viết. Từ ngày thằng Hai con ông cậu ruột về ở bày vẽ thêm, xem ra nó học tấn tới lắm. Nhưng làm sao mà nó thi nổi vào trường Gia Long…
Cuối cùng chiều lòng con gái, bà theo lên Sài Gòn.
Sài Gòn với hai má con, cái gì cũng xa lạ.
Đêm hôm đó hai má con ôm nhau nằm trong một quán trọ tồi tàn, không sao chợp mắt vì lo lắng và cũng vì lạ chỗ. Nằm sâu trong bóng tối bên này đường, nhìn sang ánh sáng khu biệt thự lộng lẫy, sang trọng bên kia, Châu bỗng thấy sợ hãi. Châu thấy Châu và má cũng chẳng khác gì những người sống chui rúc dưới gầm cầu, ống cống hay những người thất nghiệp lang thang đi ăn xin trên các lề đường mà Châu gặp ngày hôm nay… Tất cả đều lạc loài và xa lạ với thế giới của những phố xá, biệt thự và những cảnh ăn chơi hưởng thụ này. Mơ ước được vào học trường Gia Long không còn làm Châu háo hức nhiều nữa.

Sáng hôm sau, Châu và má rụt rè thuê một chiếc xích lô tới trường. Châu mặc bộ đồ bà ba may bằng một loại vải rẻ tiền, ngỡ ngàng đi giữa đám học sinh con nhà giàu áo quần sặc sỡ và sớm hợm mình vì được bố mẹ dẫn vào tận bàn thi. Chưa bao giờ ý thức giữa người nghèo và kẻ giàu lại hằn lên sâu sắc đến thế trong tâm hồn Châu. Châu quay lại nhìn má đang khép nép đứng ngoài cổng trường lần cuối, rồi bước thẳng vào phòng thi.

Nửa tháng sau, hai má con lại đi xe đò lên Sài Gòn nghe kết quả. Hồi đó thi vào trường Gia Long rất khó, thường quá nửa số thí sinh bị đánh trượt. Sân trường, cổng trường chật ních người và xe máy. Hai má con phải đứng tận ngoài xa ngóng vào. Vừa nghe bà hiệu trưởng đọc:

ʺNGUYỄN THỊ CHÂU – 12 đường Thành Thái – Biên Hòaʺ. Châu đã giật mạnh tay má reo lên: ʺMá ơi! Đỗ rồi. Con đỗ rồi!ʺ.

Má cúi xuống quệt ngang dòng nước mắt. Bà không khỏi tự hào về đứa con gái yêu của mình. Nhưng niềm vui chờ đợi mãi bây giờ mới đến, bỗng như bị gáo nước lạnh dội vào. Châu và má cùng thoáng rùng mình khi nghe nhà trường tuyên đọc nội quy, quy định ngày nhập học nhất thiết mỗi học sinh phải có ba bộ áo dài đồng phục, hai bộ bà ba, một chiếc gối trắng, một chiếc ga trải giường màu trắng và gần chục thứ đồ khác nữa.

Đêm ấy, má ôm Châu vào lòng, vuốt mái tóc con gái, giọng rầu rầu: ʺCon tha lỗi cho má. Nhà ta nghèo, ăn còn chẳng đủ, tiền đâu lo cho con vào trường. Con có thương má thì ít bữa nữa xin vào đánh máy cho tòa bố, phụ với má nuôi emʺ. Rồi má khóc. Châu cũng khóc.

Lát sau, Châu thưa với má: ʺMá ơi! Ngày mai con lại đi bán cá với má. Con không vào tòa bố đâu. Làm với chánh quyền nhục lắmʺ.

ʺChánh quyềnʺ, hai chữ đó hằn sâu trong tâm trí Châu giống như hình ảnh mẹ con nhà Cám trong câu chuyện cổ tích má thường kể. Châu không bao giờ nghĩ đi làm với cái ʺchánh quyềnʺ đã từng giết hại những người như ba Châu và cậu Châu.

Cậu bị giặc Pháp bắn bể ruột chết năm Châu vừa tròn chín tuổi. Trước lúc chết, cậu còn cố bò tới bờ ruộng vùi khẩu súng xuống bùn. Ít lâu sau, mợ cũng qua đời, má đưa cả năm người con của cậu mợ về nuôi, con đẻ, con nuôi tất cả vừa mười đứa. Đời sống gia đình rất gieo neo, Châu phải theo má đi bán cá kiếm sống, còn anh Hai – con lớn của cậu, phải đi chăn dê.

Ít bữa sau ngày Châu đi Sài Gòn thi, một hôm anh Hai nằn nì Châu đi chăn dê với anh. Chiều đó gom dê lại đủ rồi, anh Hai nói với Châu: ʺEm giúp anh lùa dê về rồi thưa với má tha tội cho anh. Anh đi theo kháng chiến đây. Sống thế này cực lắm, anh không chịu nổiʺ. Nói rồi anh Hai chạy tuốt vào rừng. Châu gọi, khóc hết nước mắt anh cũng không quay lại. Anh đi theo kháng chiến là đi theo những người như ba anh, ba Châu. Đầu óc non nớt chưa hiểu hết, nhưng Châu nghĩ sau này lớn lên chắc Châu cũng sẽ đi theo anh thôi…

Bạn có thể quan tâm đến chủ đề:

Ngày đăng: Tháng Mười 6, 2016 | Lần cập nhật cuối: Tháng Hai 6, 2018

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button