List sách haySách theo tác giả

Những quyển sách hay nhất của Immanuel Kant

Sách của Immanuel Kant cho ta một cái nhìn khá bao quát về con người, về việc bị cắt xé giữa tinh thần và thể xác, giữa lý trí và cảm giác. Và mục đích chính của ông không phải là tri thức mà là quy về vấn đề con người. Tất cả chỉ là vấn đề con người mà thôi.

Phê Phán Năng Lực Phán Đoán

Xem giá bán

Phê phán năng lực phán đoán là quyển Phê phán thứ 3 và, như Kant nói trong lời tựa của lần xuất bản thứ nhất, “với công trình này, tôi đã hoàn tất toàn bộ công cuộc phê phán của mình”. Hai quyển trước là “Phê phán lý tính thuần túy” nhằm trả lời câu hỏi “Tôi có thể biết gì?” và “Phê phán lý tính thực hành” trả lời câu hỏi “Tôi phải làm gì?”.

Câu hỏi thứ 3 “Tôi có thể hy vọng gì?” được Kant dành cho các bài viết và các công trình nghiên cứu tương đối ngắn viết về triết học lịch sử và triết học tôn giáo . Quyển Phê phán năng lực phán đoán là cầu nối cho cả ba câu hỏi trên, và tìm cách trả lời cho câu hỏi thứ tư, bao trùm ba câu hỏi trên do chính Kant đặt ra: “Con người là gì?” bằng cách gợi lên vấn đề mới: Tôi có thể cảm nhận và suy tưởng như thế nào về bản thân và thế giới xung quanh mình.

Phê phán năng lực phán đoán là một tác phẩm có kết cấu đa tầng, thực hiện hai chức năng: một mặt thực hiện chức năng hệ thống như là phần kết thức đóng góp về mặt phương pháp luận cho việc thúc đẩy luân lý và nghiên cứu về khoa học tự nhiên.

Vì thế, tác phẩm này được đánh giá như một “viên đá đỉnh vòm” của toàn bộ tòa nhà triết học.

Phê Phán Lý Tính Thuần Túy

Xem giá bán

“… Trong tất cả những tác phẩm của Bacon, Descartes, Hobbes, sau đó của Pascal, Leibniz, Locke, Hume, Rousseau, các tác phẩm của Fichte, Hegel, Nietzsche và tiếp theo đó của Frege, Russell, Heidegger và Wittgenstein, không có tác phẩm nào đã làm thay đổi và gây ảnh hưởng sâu đậm lên triết học cận và hiện đại Tây phương hơn “Phê phán lý tính thuần túy” (…) Mọi người đều cùng một nhận xét: kẻ nào nghiên cứu “Phê phán lý tính thuần túy”, kẻ đó đã đến tận gốc rễ của triết học…” (Thái Kim Lan, Dẫn luận).

Nhận xét về Immanuel Kant (1724-1804), triết gia J. Hirschberger đã viết như sau: “Kant được xem là triết gia Đức lớn nhất, hơn nữa là triết gia lớn nhất của thời cận đại (Neuzeit), là triết gia của nền văn hóa tân thời (moderne Kultur) và của nhiều lĩnh vực khác nữa. Dù người ta có đánh giá Kant gì đi nữa, điều không thể chối cãi là ít nhất Kant đã nâng triết học Đức tiến lên một giai đoạn mới. Danh tiếng của ông đẩy lùi tất cả những gì đi trước vào bóng tối và tỏa sáng lên những gì đi sau.” Trong tòa nhà triết học của Kant, cuốn Phê phán lý tính thuần túy này được xem là tác phẩm chính yếu, đồng thời cũng là tác phẩm nền tảng của triết học cổ điển Đức, danh tác bất hủ của văn hóa Tây phương và thế giới – lần đầu tiên được nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn dịch đầy đủ sang tiếng Việt và được chú giải công phu nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất (1804-2004) và 280 năm ngày sinh (1724-2004) của triết gia.

Phê phán lý tính thuần túy là chỗ kết tinh những nhận định có tính phê phán đối với nhiều trào lưu triết học trước đó (từ Platon cho tới Christian Wolff), đồng thời là điểm xuất phát và điểm quy chiếu của triết học cổ điển (duy tâm) Đức (Fichte, Schelling, Hegel) và có ảnh hưởng sâu đậm đến sự phát triển của triết học và khoa học Tây phương cho đến ngày nay. Tác động của nó vượt ra khỏi lãnh vực chuyên môn của triết học. “Hai đặc điểm nổi bật của tác phẩm là: một mặt, việc phê phán Siêu hình học cổ truyền đã làm rung chuyển cơ sở siêu hình học-thần học của thế giới quan truyền thống và do đó, là diễn đàn của “lý tính con người” buộc mọi thứ phải phục tùng sự “kiểm tra và phê phán tự do và công khai”. Mặt khác, tác phẩm phát triển những tiền đề cơ bản để nhận chân quyền tự do và tự trị của con người với tư cách là sinh vật có lý tính, tạo cơ sở cho sự tự-nhận thức về mặt đạo đức và pháp quyền của xã hội hiện đại.”

Phê phán lý tính thuần túy khảo sát toàn bộ nhận thức của con người, không chỉ trong phạm vi lý thuyết của tư duy mà cả trong phạm vi thực hành của hành vi con người. Với Phê phán lý tính thuần túy,Kant muốn bàn về: tri thức con người thuộc loại tri thức nào? Con người có thể biết những gì và không thể biết những gì? Kant viết Phê phán lý tính thuần túy để vạch giới hạn cho lý trí con người, với mục đích chứng tỏ cho con người biết không thể dùng tri thức khoa học là sản phẩm của kinh nghiệm để đạt tới những đối tượng của Siêu hình học.

Phê Phán Lý Tính Thực Hành

Xem giá bán

Sử dụng lý tính một cách lý thuyết là làm việc với những đối tượng của quan năng đơn thuần nhận thức, và một sự phê phán lý tính về phương diện sử dụng này chỉ đụng chạm đến quan năng nhận thức thuần túy, vì quan năng này gợi lên sự nghi ngờ – và sau đó, được xác nhận – là rất dễ vượt ra khỏi những ranh giới của mình và bị lạc lối trong những đối tượng không thể nào vươn đến nổi hay trong những khái niệm mâu thuẫn với nhau. Nhưng với sự sử dụng lý tính một cách thực hành, tình hình lại hoàn toàn khác.

Trong việc sử dụng này, lý tính làm việc với những cơ sở quy định của ý chí (Willen); mà ý chí là một quan năng tạo ra những đối tượng tương ứng với những biểu tượng hoặc quy định bản thân ta trong việc tác động đến những đối tượng ấy (bất kể năng lực thể chất của ta có đủ hay không), nghĩa là, quy định tính nhân quả của chính ta. Bởi vì ở đây, lý tính chí ít cũng có thể đi đến chỗ trở thành sự quy định ý chí và, trong chừng mực chỉ liên quan đến ý chí thì lúc nào cũng có được tính thực tại khách quan.

Do đó, câu hỏi đầu tiên ở đây là : Liệu lý tính thuần túy chỉ cần dựa vào bản thân mình là đủ để quy định ý chí hay liệu nó chỉ có thể làm điều đấy khi dựa trên các điều kiện thường nghiệm? ở đây xuất hiện ngay một khái niệm về tính nhân quả – vốn được sự phê phán lý tính thuần túy biện minh, mặc dù không thể chứng minh một cách thường nghiệm.

Vì thế, ta sẽ không cần phải tiến hành một sự phê phán đối với lý tính thuần túy thực hành mà chỉ đối với lý tính thực hành nói chung mà thôi. Lý do: một khi đã chứng minh được rằng quả có lý tính thuần túy thì không việc gì phải phê phán nó cả. Bởi lẽ chính bản thân lý tính mang theo mình chuẩn mực để phê phán mọi sự sử dụng về nó. Do đó, sự phê phán lý tính hực hành nói chung có nhiệm vụ bắt buộc là phải ngăn chặn không cho phép lý tính thường nghiệm-có-điều kiện có yêu sách là kẻ duy nhất đề ra cơ sở quy định cho ý chí.

Tuy nhiên, vì lẽ lúc nào nó cũng vẫn là lý tính thuần túy và nhận thức về nó ở đây là cơ sở cho việc sử dụng thực hành về nó, nên phác đồ khái quát về việc phân chia nội dung của một công cuộc phê phán lý tính thực hành cũng được sắp xếp tương ứng với việc phân chia nội dung của công cuộc phê phán lý tính tự biện. Ở đây, ta phải làm việc với một ý chí và xem xét lý tính không phải trong mối quan hệ của nó với những đối tượng mà với ý chí này và với tính nhân quả của nó. Vì thế ta phải bắt đầu với các nguyên tắc của tính nhân quả vô-điều kiện về mặt thường nghiệm, sau đó mới có thể tiến hành xác lập các khái niệm của ta về các cơ sở quy định cho một ý chí như thế, cũng như cho việc áp dụng các khái niệm ấy vào cho những đối tượng và sau cùng, áp dụng vào cho chủ thể và cảm năng của chủ đề. Ta phải nhất thiết bắt đầu với quy luật về tính nhân quả từ sự Tự do, nghĩa là, bắt đầu với một nguyên tắc thuần túy thực hành và Nguyên tắc này sẽ quy định những đối tượng duy nhất mà nó có thể được áp dụng vào.

Vnwriter

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
Close