Rừng Na Uy

4.50 out of 5 based on 2 customer ratings
(2 customer reviews )

Những bản ngã riêng lẽ của mỗi cá nhân trong cuộc sống là những thực thể đôi khi trái ngược nhau những không đối lập nhau mà là một phần của nhau. Watanabe Toru; Naoko hay Kobayashi Midori; Ishida Reiko lẫn Nagasawa; Hatsumi…Những méo mó và sự lệch lạc thân cách từ những suy nghĩ và hành động rất đổi lạ kỳ nhưng cũng rất đổi quen thuộc.

“Sự chết không phải là đôi nghịch của sự sống mà là một phần của sự sống”

 

Xem giá bán

icon vinabook Rừng Na Uy icon adayroi Rừng Na Uy icon lazada Rừng Na Uy

Tác giả: Haruki Murakami

Mô tả

Bất chợt lắng nghe bài hát mà nàng vẫn ưa thích nhất của Beatles, Toru Watanbe hồi tưởng lại mối tình đầu của mình với Naoko, người yêu của người bạn thân nhất là Kizuki. Ký ức ngay lập tức mang anh trở về những ngày sinh viên của 20 năm trước , ở Tokyo, những ngày chơi vơi trong một thế giới của tình bạn khó khăn, của tình dục buông thả, của đam mê mầt mát, trở về cái thời mà một cô gái mạnh mẽ tên là Modori đã bước vào cuộc đời anh, khiến anh phải chọn lựa, hoặc tương lai, hoặc quá khứ…

Cùng thoát thai từ nỗi buồn thương trong sáng về tồn tại, Rừng Na Uy, bài hát năm nào của Beatles, đã được lấy làm tên gọi cho cuốn tiểu thuyết tình yêu ngọt ngào và u sầu của Haruki Murakami. Bước vào cõi sống của Rừng Na Uy, qua sự sớm cô đơn như định mệnh của những người trẻ tuổi, qua mối tình tay ba vừa quấn quýt xác thân vừa u mặc sầu bi của Naoko-Toru-Midori, người ta cảm thấy ngỡ ngàng trước tình yêu như là nơi trú ngụ duy nhất của người đàn ông và người đàn bà trên thế gian này, và khám phá ra một nỗi buồn mênh mang, trống vắng rất Nhật Bản của thời hiện đại. Trong nỗi ưu tư và cô đơn như một định mệnh đã cài đặt nơi những người mới lớn, trong sự tuyệt vọng của những tâm hồn trong sáng sẵn sàng hy sinh thân mình để khỏi thoả hiệp với cuộc sống thế gian. Và tình yêu đã là nơi trú ngụ duy nhất. tình yêu và sự giải phóng của xác thân bao bọc lấy nó, làm cho người đàn ông và người đàn bà có thể yêu nhau với tất cả những gì có thể trước cuộc đời ngắn ngủi và quý giá. Với ý nghĩa đó, mối tình tay ba Naoko-Toru-Midori đã lay động hàng chục triệu độc giả trên toàn thề giới trong một tác phẩm được coi là tuyệt bút của Murakami.

Xuất bản lần đầu ở Nhật Bản năm 1987, Truyện Tiểu Thuyết Rừng Na Uy thực sự là một hiện tượng kỳ lạ với 4 triệu bản sách được bán ra, và theo thống kê hiện tại, cứ 7 người Nhật thì có 1 người đã đọc Rừng Na Uy. Tại Trung Quốc, Rừng Na Uy đã trở thành một hiện tượng văn hoá với hơn 1 triệu bản sách được tiêu thụ và được đánh giá là 1 trong 10 cuốn sách có ảnh hưởng lớn nhất ở đại lục trong thế kỷ 20.

Theo tờ Publisher Weekly, “đã hai mươi năm nay, Rừng Na Uy luôn nằm trong danh sách 10 tiểu thuyết được giới trẻ Nhật Bản và Hàn Quốc tìm đọc nhiều nhất”. – Publisher Weekly

Nắm bắt sự đam mê và gấp gấp của ái tình tuổi trẻ… Lặng lẽ lôi cuốn người đọc và cuối cùng lay động tam can. – Time Literary Supplement

Dịu dàng, quyến rũ như thơ, căng thẳng như bi kịch và gợi dục một cách mê đắm. Một cuốn tiểu thuyết kỳ diệu có âm hưởng hướng đạo và tự nguyện. Nhân vật chính yêu người yêu của người bạn thân nhất thời niên thiếu đã tự sát của mình. Nhưng một thời gian sau,a nh chàng cũng phải lòng một nữ sinh ở khoa mình… Tuyệt đối nên đọc. – SDM

Trích đoạn sách hay

Đã có một thời, nhiều năm trước đây – đúng ra là hai mươi năm trước đây – tôi đã sống trong một khu học xá. Tôi mười tám tuổi và là sinh viên năm thứ nhất. Tôi mới đến Tokyo và chưa sống một mình bao giờ nên cha mẹ tôi rất lo, và họ thu xếp cho tôi ở trong một khu học xá tư nhân chứ không thuê một căn phòng riêng cho tôi như hầu hết các sinh viên khác. Khu học xá phục vụ cả ăn uống và nhiều tiện nghi khác nên có thể sẽ giúp đứa con mười tám tuổi đầu còn lớ ngớ của họ sống sót được. Và còn cả chuyện chi phí nữa. Ở khu học xá rẻ hơn nhiều so với thuê phòng riêng. Chỉ cần chăn chiếu và một cái đèn thôi là đủ, không phải mua thêm đồ đạc gì nhiều. Riêng tôi vẫn muốn thuê một căn hộ và sống thoải mái một mình, nhưng biết rằng cha mẹ còn phải trả tiền học và các thứ lệ phí khác cho cái trường đại học tư mà mình đã đỗ vào, nên tôi không dám đòi hỏi gì thêm. Ngoài ra, thực tình tôi cũng chẳng mấy quan tâm đến nơi ăn chốn ở của mình.
Nằm trên một quả đồi ở trung tâm thành phố với tầm nhìn rộng rãi, khu học xá có một khuôn viên vuông vức và có tường bê-tông bao quanh. Một cái cây zelkova[2] khổng lồ cao vút mọc ngay ở sau chỗ cổng trước. Người ta nói nó đã một trăm năm mươi tuổi là ít. Đứng dưới gốc mà nhìn lên thì những tán lá xanh dày đặc của nó che kín hết cả trời.
Lối đi lát gạch từ cổng vào chạy vòng quanh cái cây ấy rồi tiếp tục thẳng tuột qua giữa khu đất vuông của khu học xá. Hai dãy nhà ba tầng bằng bê-tông nằm đối diện nhau qua lối đi ấy. Chúng to lừng lững với rất nhiều cửa sổ và làm người ta có ấn tượng như chúng là những toà chung cư được cải tạo thành nhà tù hoặc là nhà tù cải tạo thành khu chung cư. Tuy nhiên chúng không có vẻ gì là bẩn thỉu, mà cũng không gây cảm giác tăm tối. Có thể nghe thấy tiếng radio vọng ra từ những cửa sổ để mở, và tất cả cửa sổ đều mắc một loại rèm màu kem mà nắng không thể làm bạc thêm được nữa.
Qua khỏi hai dãy nhà đó, lối đi dẫn đến một toà nhà sinh hoạt chung có hai tầng, tầng dưới là nhà ăn và khu nhà tắm, tầng trên có một giảng đường, các phòng họp, và bảy phòng dành cho khách mà tôi không bao giờ biết họ là ai. Bên cạnh toà nhà sinh hoạt chung ấy lại là một khu nhà ở nữa, cũng ba tầng. Khắp khuôn viên vuông vức ấy phủ đầy những sân cỏ rộng rãi, và nước phun từ các vòi tưới xoay tròn lấp loá dưới nắng trời. Phía sau toà nhà sinh hoạt chung là một sân có dùng để chơi bóng chày và bóng bầu dục, và sáu sân bóng quần. Khu học xá có đủ thứ ta có thể cần đến.
Nó chỉ có mỗi một vấn đề: mùi vị chính trị của chính nó. Khu học xá được đặt dưới quyền của một kiểu tổ chức mờ ám xoay quanh một nhân vật cực hữu, và đối với tôi thì có một cái gì đó rất xiên xẹo trong cách họ điều hành cơ sở này. Có thể thấy điều đó trong cuốn sách nhỏ họ phát cho sinh viên mới đến và trong cả nội quy của khu học xá. Họ tuyên bố rằng khu học xá được thành lập theo “tinh thần chủ đạo” là “nỗ lực bồi dưỡng nguồn nhân lực quốc dân thông qua chất lượng tối cao của những cơ sở giáo dục”, và nhiều đại gia tài chính ủng hộ “tinh thần” này đã đóng góp tiền riêng của họ vào việc xây dựng nó. Đó là bộ mặt công khai của dự án, mặc dù bên dưới đó là gì thì còn cực kỳ mơ hồ. Có người nói đây là một kiểu công trình trốn thuế, có người lại coi đây là một màn trình diễn lấy danh tiếng của những nhân vật góp vốn, lại cũng có người nói rằng việc xây khu học xá chỉ là để che đậy hành vi chiếm đoạt một miếng gan miếng tiết của bất động sản công cộng. Nhưng có một chuyện chắc chắn là có thật: trong kí túc xá có một câu lạc bộ đặc tuyển gồm toàn những sinh viên thượng lưu từ nhiều trường đại học khác nhau. Họ lập ra nhưng “nhóm học tập” họp nhau nhiều lần một tháng với sự tham gia của cả nhiều sáng lập viên. Thành viên nào của câu lạc bộ này cũng chắc chắn sẽ có công ăn việc làm ngon lành sau khi tốt nghiệp. Tôi cũng chẳng biết trong những lý thuyết này, nếu có thể gọi thế, có cái nào đúng không, nhưng tất cả chúng đều có chung một giả định rằng có gì đó mờ ám về cơ sở này.
Dù sao, tôi cũng đã có hai năm – từ mùa xuân 1968 đến mùa xuân 1970 – sống trong cái khu học xá “mờ ám” ấy. Cũng không thể giải thích được tại sao tôi lại chịu đựng được nó lâu đến thế. Về mặt sinh hoạt hàng ngày thì dù nó có là hữu khuynh hay tả khuynh hoặc gì gì đi nữa thì cũng chẳng khác gì đối với tôi.

Ngày nào cũng khởi đầu bằng một lễ kéo cờ trịnh trọng. Họ chơi cả nhạc quốc thiều, tất nhiên rồi. Hai việc ấy không thể thiếu nhau được. Cột cờ trồng ở chính giữa khu học xá, có thể nhìn thấy từ cửa sổ của cả ba khu nhà ở.
Trưởng khu nhà ở phía đông (nơi tôi kí túc) là người phụ trách lá cờ. Ông ta cao lớn, mắt diều hâu, tuổi trạc già năm mươi non sáu mươi. Mớ tóc xù của ông đã điểm bạc, và cái cổ rám nắng của ông có một vết sẹo dài. Người ta kháo nhau rằng ông đã tốt nghiệp trường huấn luyện tình báo Nakano từ thời chiến tranh, nhưng không ai biết chắc cả. Đứng cạnh ông là một sinh viên trợ lí. Cả anh chàng này cũng không ai biết rõ lai lịch. Anh ta có mái đầu húi cua ngắn nhất thế giới và lúc nào cũng mặc đồng phục sinh viên màu xanh thuỷ quân. Tôi không biết tên anh ta, cũng chẳng biết anh ta ở phòng nào, không bao giờ gặp anh ta trong nhà ăn hoặc nhà tắm. Thậm chí tôi không chắc anh ta có phải là sinh viên hay không nữa, mặc dù ai cũng nghĩ anh ta phải là sinh viên, vì cái bộ đồng phục ấy, vốn đã nhanh chóng trở thành biệt hiệu của anh ta. Trái ngược với Ngài Nakano, “Đồng phục” lùn tè, phục phịch, mặt mũi nhợt nhạt. Hai con người làm thành một cặp trông ghê ghê ấy ngày nào cũng kéo lá cờ Mặt trời mọc lên vào lúc sáu giờ sáng.
Khi tôi mới vào khu học xá, cái mới lạ của sự kiện đó thường khiến tôi dậy sớm để kịp chứng kiến nghi thức ái quốc này. Hai người sẽ xuất hiện dưới sân hầu như đúng vào lúc đài phát thanh phát đi tín hiệu sáu giờ.
“Đồng phục” mặc đồng phục, tất nhiên rồi, với giày da đen, còn Nakano thì xách theo bên mình một máy ghi âm hiệu Sony. Ông đặt cái máy xuống cạnh chân cột cờ trong khi “Đồng phục” mở một cái hộp để lộ lá cờ được gấp gọn gàng ở bên trong. Anh ta kính cẩn dâng lá cờ cho Nakano. Ông này mắc nó vào dây trên cột cờ, để lộ hình tròn đỏ chói của Mặt trời mọc trên nền trắng tinh khiết.
Sau đó, “Đồng phục” bấm nút cho chạy nhạc quốc thiều.
“Cầu cho Chúa tể chúng ta sẽ ngự trị…”
Và lá cờ sẽ leo lên.
“Cho đến khi sổi cuội thành đá tảng…”
Nó sẽ lên đến nửa cột.
“Và được rêu xanh bao phủ…”
Bây giờ thì nó đã ở trên ngọn cột. Hai người ấy đứng nghiêm, im phăng phắc, ngẩng nhìn lá cờ lúc ấy đã là cả một hình ảnh kì vỹ trong những ngày đẹp trời lộng gió.
Lễ hạ cờ được cử hành lúc chiều tối với cùng một vẻ trang nghiêm như thế, nhưng theo trình tự ngược lại. Lá cờ sẽ trèo xuống và tìm về chỗ của nó trong chiếc hộp.
Quốc kỳ không tung bay trong đêm tối.
Tôi không biết tại sao lá cờ phải được hạ xuống vào ban đêm. Quốc dân vẫn tiếp tục tồn tại qua đêm tối, và biết bao nhiêu người vẫn làm việc suốt đêm – thợ xây dựng đường sắt và những người lái taxi, rồi chủ các quán bar, lính cứu hoả, người gác đêm. Tôi thấy có vẻ thật bất công khi những người này bị tước mất quyền được lá cờ bảo vệ. Hoặc giả chuyện này cũng chẳng hệ trọng đến thế mà cũng chẳng có ai quan tâm – trừ tôi. Cũng chẳng phải là tôi thực sự quan tâm. Chỉ vì nó tình cờ đi qua tâm trí tôi thế thôi.

Nội quy bắt buộc sinh viên năm đầu và năm thứ hai phải ở hai người một phòng, còn sinh viên năm thứ ba và năm cuối thì được ở riêng mỗi người một phòng. Phòng đôi thì dài hơn và hẹp hơn cỡ phòng bề ba mét bề bốn mét một chút, với một cửa sổ khung nhôm kính trên bức tường đối diện cửa ra vào và hai chiếc bàn kê cạnh đó theo lối để hai người ngồi học quay lưng vào nhau. Bên trái cửa ra vào kê một bộ giường tầng khung thép. Đồ đạc đi liền với phòng đều chắc chắn và giản dị, bao gồm hai tủ sắt đựng quần áo có khoá, một bàn nước nhỏ, và một số giá đỡ liền tường. Ngay cả người dễ tính nhất cũng khó lòng gọi cách bài trí ấy là thơ mộng. Trên giá đỡ của hầu hết các phòng đều thấy để những đồ như đài bán dẫn, máy sấy tóc, ấm đun nước và nồi cơm điện, cà-phê tan, trà túi, đường miếng, và những nồi bát đơn giản để nấu mì ăn liền. Trên tường treo đầy những ảnh cắt từ tạp chí dành cho con gái hoặc bích chương quảng cáo phim ảnh khiêu dâm ăn trộm được. Một gã có hình chụp lợn đang đi tơ nhau, nhưng đó là một ngoại lệ đặc biệt so với đa số hình ảnh đàn bà trần truồng bình thường, các nữ ca sĩ phổ thông hoặc nữ diễn viên. Giá sách phía trên bàn học thì đựng sách giáo khoa, tự điển và tiểu thuyết.

Rác rưởi của những căn phòng toàn bọn con trai này thật khủng khiếp. Vỏ quýt mốc meo dính chặt vào đáy những bồ đựng giấy loại. Những vỏ đồ hộp dùng làm gạt tàn chất đầy đầu mẩu thuốc lá, và khi chúng bắt lửa âm ỉ cháy thì liền bị giội cà-phê hoặc bia rồi đề mặc đó cho đến lúc bốc mùi chua loét. Bụi đen và những vụn bẩn vô tăm tích bám đầy bát đĩa trên, các giá đỡ, và sàn nhà thì đầy những vỏ mì ăn lỉền và hộp bia rỗng cùng những nắp đậy của thứ này thứ kia vứt lung tung. Không ai nghĩ đến việc quét nhà và dọn rác. Cơn gió nào thổi qua phòng cũng làm bụi bốc lên mù mịt. Mỗi phòng có một mùi gớm guốc riêng của mình, nhưng cấu phần của cái mùi ấy thì đều như nhau: mồ hôi, mùi thân thế bẩn thỉu, và mùi rác rưỡi. Quần áo bẩn chất đống dưới gầm giường, và vì không có ai thèm phơi phóng chăn nệm thường xuyên nên những thứ vải vóc ngấm đẫm mồ hôi ấy bốc mùi hôi hầm không thể cứu chữa nổi. Nghĩ lại, có vẻ thật kì diệu là những đống hôi thối ấy không làm nay sinh dịch bệnh chết người nào.
Nhưng buồng tôi ở lại sạch tinh tươm như một phòng ướp xác. Sàn nhà và cửa sổ không một vết bẩn, chăn nệm tuần nào cũng được phơi phóng, tất cả bút chì đều đứng ngay ngắn trong hộp đựng của chúng, thậm chí màn cửa cũng được giặt mỗi tháng một lần. Bạn cùng phòng với tôi là một gã sạch sẽ đến mức bệnh hoạn. Khỏng có ai trong khu học xá tin lời tôi khi tôi kề chuyện giặt màn cửa phòng mình. Chúng không biết rằng màn cửa lại có thể giặt được. Hình như chúng tin rằng màn cửa là một bộ phận bán thường xuyên của kết cấu cửa sổ.

“Thằng cha đó hỏng rồi,” chúng nói, và đặt biệt danh cho anh bạn tôi là một thằng lính phát xít, một tên Quốc-xã.

Readers' review

Rated 4.50 out of 5 stars
2 reviews
3 stars 0 0 %
2 stars 0 0 %
1 star 0 0 %

2 reviews for Rừng Na Uy

  1. John Vu
    5 out of 5

    John Vu Writer

    Khi bản ngã lên tiếng.Đọc "Rừng Na Uy" tôi có cảm tưởng như đang xem một bộ phim quay chậm, được chắp nối qua những dòng ký ức của Toru về tuổi trẻ, về Naoko, về Midori, về bản ngã của mỗi con người.

    Toru khác biệt, mọi định kiến hay quy tắc sống mà xã hội áp đặt là vô nghĩa đối với anh. Cái tình cảm Toru dành cho Naoko như ngọn lửa le lói trong màn đêm, có lúc mãnh liệt, có lúc lụi tàn trong chớp nhoáng nhưng duy nhất là không bao giờ tắt. Cách anh quan tâm Naoko, nỗi đau anh mang theo khi biết tin Naoko tự kết liễu đời mình ..Tất cả những điều đó hinh thành nên Toru, nêu bật lên bản ngã đen tối cũng không kém phần mạnh mẽ trong bản thân mỗi con người.

    Ví chuyện tình Naoko và Toru như ngọn đèn thì có lẽ tình cảm giữa Midori và Toru giống như mọt chuyến tàu. Một chuyến tàu mà điểm dừng hay điểm xuất phát có lẽ không bao giờ biết được. Đôi lúc say đắm, con tàu như ngừng lăn bánh để hành khách của nó đươc chìm đắng trong không gian của riêng họ. Đôi lúc bất giác, con tàu rung mạnh đưa họ về thực tai cay đắng, giữa mối tình tay ba ai sâu đậm ai đớn đau.

    Haruki đã rất tài tình khi đưa tất cả nhân vật và cả người đọc bị cuốn vào vòng xoay tình yêu đầy hấp dẫn nhưng không kém phần ray rứt. Sự thật trần trụi về con người , về những dục vọng cứ hiển hiện, cứ xoay chuyển như con tàu không bao giờ ngừng bánh. Và đôi lúc ta lạc mất bến dùng..

    Was this review helpful to you? 2 of 2 people found this review helpful

  2. Vũ Đức Phong
    4 out of 5

    Vũ Đức Phong Writer

    review Rừng Na UyMình đọc Rừng Na-Uy, thì chỉ có 2 người con gái đọng lại trong tâm trí: Naoko và Midori, nên chỉ xin nêu cảm nhận về tác phẩm ở tương quan giữa 2 nhân vật này và nam chính. Mình cũng xin không đề cập nhiều về yếu tố hiện sinh của Haruki, vì bản thân cũng chưa có những cảm nhận đủ sâu về nó.
    Naoko, theo mình, là hiện thân cho những nỗi buồn. Nỗi buồn thường u ám, và như chất men, biến đổi tất cả năng lượng con người ta thành ra thứ men u sầu. Nam chính Toru, cứ mỗi lần sống gần Naoko, thì tâm hồn lại bãng lãng như làn khói, chập chờn, tan mà không tan, tụ mà không tụ. Nỗi buồn cũng có vẻ đẹp và nét quyến rũ riêng của nó. Naoko cũng thế, nét đẹp, nét cuốn hút của cô ở chỗ những người tiếp xúc thường muốn che chở, bảo bọc. Cái chết của cô cũng đến thật nhẹ nhàng, dù có thể đoán trước, nhưng vẫn để lại nhiều day dứt, cứ như người say đến lúc phải tỉnh, nhưng đầu óc còn biêng biêng. Sự ra đi của Naoko là cần thiết, để nam chính tiếp tục cuộc sống với tất cả năng lượng của mình.
    Midori thì ngược lại, cô là hiện thân cho niềm vui, dù rằng cuộc đời cô khó có thể là niềm vui. Midori là cái neo vào hiện thực, neo vào khao khát sống để Toru còn có thể quay về, không bị chìm sâu mãi vào "cơn say Naoko". Midori là "Red Bull" cho tâm hồn Toru. Mình yêu cái vẻ lạnh lùng nhưng yếu đuối của Midori, yêu những cái nhõng nhẽo vô lý của cô ấy, yêu cả cái khát khao chinh phục, và chiếm đoạt, 2 động từ lẽ ra phải thuộc về nam chính Toru. Phải, mình thích Rừng Na-Uy vì thích Midori. Tác giả để lại cái kết mở, và mình thì thích nghĩ rằng, vào đầu câu chuyện, trên chuyến bay đó, Toru đang ngồi bên cạnh Midori. Midori lúc này đã mang họ Watanabe. Midori xứng đáng là tương lai của Toru.
    Với mình, văn của Haruki nó như người ta đem mây trắng ở đèo Hải Vân bỏ vào tủ lạnh, u ám, đặc sệt, hoang mang, lạnh lẽo nhưng cũng cuốn hút và lãng mạn.

    Was this review helpful to you? 4 of 4 people found this review helpful

Add a review

Questions and answers of the readers

There are no questions yet, be the first to ask something for this product.

Only registered users are eligible to enter questions
Yes No