Như Núi Như Mây

(3 đánh giá của khách hàng)

“Cách đây hai mươi sáu năm, em đã thề với lòng mình sẽ chỉ yêu một mình anh. Biển đã chứng kiến lời thề ấy và qua bao sóng gió lại đón mình quay về. Em muốn, sau này, khi hai đứa mình chết đi, tro của hai đứa sẽ được rải xuống trên vùng biển ấy, để linh hồn mình mãi mãi bên nhau…”

Như núi như mây lại là một câu chuyện tình đầy sóng gió nhưng bền bỉ, bị ngăn cản bởi gia đình, bởi cuộc chiến tranh và bởi khoảng cách địa lý. Nhưng Vân và Sơn – đôi bạn trẻ yêu nhau ngày ấy vẫn tìm về bên nhau, dù khi được mãi mãi bên nhau thì cả hai chỉ còn là nắm tro tàn.

“Cách đây hai mươi sáu năm, em đã thề với lòng mình sẽ chỉ yêu một mình anh. Biển đã chứng kiến lời thề ấy và qua bao sóng gió lại đón mình quay về. Em muốn, sau này, khi hai đứa mình chết đi, tro của hai đứa sẽ được rải xuống trên vùng biển ấy, để linh hồn mình mãi mãi bên nhau…”

Dù thời điểm bắt đầu chuyện tình cách đây đã lâu, nhưng tình yêu thì không bao giờ là cũ. Với Như núi như mây, Nguyễn Đông Thức đã cuốn hút người đọc từ đầu đến cuối.

Trích đoạn sách hay

… Bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, kể cả lúc tuyệt vọng nhất, mẹ vẫn luôn nghĩ và nhớ về cậu Sơn. Và trong những lúc ấy, mẹ vẫn luôn tin rằng ở một nơi xa xăm nào đó, cậu cũng đang nghĩ và nhớ về mẹ, cho dù cậu không còn tồn tại trên cõi đời này nữa hoặc đã yên ổn với một gia đình khác, như chính mẹ…

(Trích thư của bà Bạch Vân để lại cho con)

Ba Nhỏ đứng lên chủ động bắt tay Sơn sau khi nhìn lướt qua anh thật nhanh:

– Chào đồng chí.

Năm Hiền giới thiệu:

– Đây là đồng chí Ba Nhỏ, công an điều tra tỉnh Hậu Giang. Còn đây là đồng chí Sơn. Đồng chí Ba Nhỏ có việc cần hỏi Sơn, Sơn giúp anh ấy nhé.

Năm Hiền ra khỏi văn phòng và đóng cửa lại. Sơn ngạc nhiên nhìn Ba Nhỏ, không biết có việc gì mà anh công an ở Hậu Giang này lại lên tận đây tìm mình. Như đoán được ý Sơn, Ba Nhỏ nói ngay:

– Đồng chí có một người bạn tên Hữu phải không?

Sơn ngần ngại:

– Hữu nào ạ?

– Trần Trọng Hữu, sinh viên đại học Vạn Hạnh.

– Vâng, đó là một người bạn cũ của tôi hồi trung học.

Từ cái nhìn đầu tiên Sơn đã thấy cần phải cảnh giác với Ba Nhỏ, dù gương mặt anh công an này khá sáng sủa. Trực giác của Sơn cho biết đây là một con người khôn ngoan nhưng cố chấp, và hiện anh ta đang có một ý định bí ẩn gì đó với Sơn.

– Anh biết bây giờ anh Hữu ở đâu không? – Ba Nhỏ hỏi.

– Không, tôi không biết. – Sơn thận trọng nói, dù anh biết rất rõ chuyện cả nhà Hữu đã đi vào ngày 29 tháng Tư – Từ sau khi đi thanh niên xung phong tới giờ tôi không còn liên lạc với bạn bè cũ nào.

– Trần Trọng Hữu đã xuống miền Tây và tham gia một tổ chức chống phá cách mạng dưới đó! Chúng tôi chưa bắt được Hữu nên mới tìm gặp bạn bè cũ của anh ta để hỏi thăm thêm về một vài địa chỉ…

Sơn nhìn thẳng vào mặt Ba Nhỏ để tìm kiếm ánh gian dối trong đôi mắt anh ta. Hữu đi xuống miền Tây và hoạt động chống phá cách mạng? Không, Sơn hoàn toàn không tin chuyện này. Đây chắc chắn là điều bịa đặt. Ba của Hữu làm việc ở USOM[30], cương vị rất khá. Ông được người Mỹ bốc đi cả gia đình là điều đương nhiên. Hôm Sơn về từ khám Chí Hòa, ba mẹ Sơn kể lại là sáng 28 tháng Tư, Hữu còn tới coi Sơn được về chưa để tính chuyện kéo Sơn theo. Hữu ốm nhom ốm nhách, tính tình hiền lành, nhút nhát, ngoài giờ học chỉ thích nghe nhạc. Dù còn ở lại Việt Nam thì nó cũng không bao giờ tham gia những chuyện liều lĩnh, nguy hiểm.

[30] United States O perations Mission – Phái đoàn công tác Hoa Kỳ, chuyên lo công việc viện trợ.

Ba Nhỏ điềm tĩnh chịu đựng ánh nhìn của Sơn, hỏi tiếp:

– Anh có thể cho tôi biết tên và địa chỉ vài người bạn khác của Hữu không?

Sơn lắc đầu:

– Hồi trung học Hữu và tôi ngồi kế nhau nên thân. Tôi không biết nhà của ai khác.

Ba Nhỏ nhíu mày nhìn Sơn và bất ngờ buông ra câu hỏi:

– Anh có biết cô gái nào tên Vân không? Lê Bạch Vân?

Sơn nhìn sững Ba Nhỏ. Anh ta điềm tĩnh nhìn lại như để thăm dò phản ứng của Sơn. Tim Sơn đập nhanh trong lồng ngực. Vân còn ở trong nước và tham gia nhóm của Hữu? Không, Sơn dứt khoát không tin. Vân luôn luôn nói rất ghét chuyện chính trị kia mà, vả lại rõ ràng cả nhà cô đã ra đi từ trước ngày 30-4… Hay thật ra nhà Vân chỉ chạy xuống miền Tây và còn kẹt ở dưới đó? Tại sao tay công an này lại biết tên Vân? Chắc chắn anh ta đã biết từ cùng một nguồn với chuyện về Hữu. Vậy anh ta biết gì về Sơn và thật sự đang muốn tìm hiểu chuyện gì? Chưa hiểu được ý định thật sự của Ba Nhỏ, Sơn quyết định vừa tiếp tục “không biết không nghe không thấy” vừa tìm cách thăm dò:

– Hình như sau khi lên đại học Hữu có một cô bạn tên Vân, nhưng chúng tôi đã học khác trường nên không còn thân như trước, không biết có phải là cô mà đồng chí muốn hỏi không? Cô ấy đang ở đây hay ở dưới Hậu Giang?

Sơn nhìn Ba Nhỏ đăm đăm, chờ mong một sự xác nhận, nhưng anh công an còn điềm tĩnh hơn:

– Tôi không biết nên mới đi hỏi anh đây. Chúng tôi có giữ một lá thư của Hữu gởi cho cô Vân nhờ giúp đỡ. Tôi lên đây tìm thì nhà cô giờ là của một đơn vị bộ đội. Nghe nói ba cô ta là một… cán bộ tình báo cao cấp của ngụy quyền trước đây…

Đó là một cái bẫy mà Ba Nhỏ đã dày công suy nghĩ để gài Sơn. Nếu anh nói sai, chắc chắn Sơn đính chánh ngay. Mặt tỉnh như không, nhưng trong lòng Ba Nhỏ lại đang sôi lên sùng sục. Đây đúng là người anh đang đi tìm, cũng là người đã thu giữ hết hồn vía của Vân. Theo địa chỉ trên những lá thư Vân gởi – chính Ba Nhỏ bằng quyền lực của mình đã yêu cầu cô nhân viên bưu điện đưa tất cả thư từ Vân gởi đi cho anh kiểm tra, vì Vân đang là đối tượng phải theo dõi đặc biệt – Ba Nhỏ lên Sài Gòn tìm đến nhà Sơn, trước để coi mặt mũi anh như thế nào rồi sau đó tìm hiểu thêm về gia đình Năm Thảnh. Khá vất vả Ba Nhỏ mới lùng ra Sơn đang học ở trường huấn luyện thanh niên xung phong và anh phải nghĩ nát óc mới ra được tình huống Trần Trọng Hữu – nhờ lá thư Vân gởi cho Hữu để hỏi thăm về Sơn mà cuối cùng cũng vào tay Ba Nhỏ – để tiếp cận Sơn. Câu chuyện được sắp xếp khá chặt chẽ, hợp lý, vậy tại sao anh đại đội trưởng này lại có thái độ bất hợp tác và thậm chí nói dối? Đã có sơ hở chỗ nào chăng, Ba Nhỏ tự hỏi.

Trước mắt Ba Nhỏ lại hiện lên một trang thư Vân viết cho Sơn từ Hiệp Hưng. Cả ba lá thư đều có nội dung y như nhau, rất vắn tắt – chứng tỏ Vân hết sức thận trọng, không hề hé lộ một thông tin gì về mình – cho biết cô đang ở Hiệp Hưng với ba mẹ và hướng dẫn đường cho Sơn đi xuống. Riêng lá thư cuối, trước khi xuống tàu ra biển Vân viết rất vội và nhờ một cô bạn hàng xóm đi gởi giúp, cô này lại để mấy hôm sau có dịp ra Phụng Hiệp mới cầm theo… Trong lá thư ấy, có lẽ Vân không kềm lòng được nên viết thêm một đoạn mà Ba Nhỏ nay đã thuộc lòng:

Sơn ơi,

Em đang định về Sài Gòn tìm anh thì khuya nay mới được mẹ cho biết sáng sớm cả nhà sẽ lên đường ra biển! Vậy là em sẽ đi mà vẫn chưa hề được biết tin tức về anh! Anh sao rồi, có được bình yên không? Chuyến đi của em đầy nguy hiểm, không biết sống chết thế nào. Em cầu mong nếu có chuyện gì không may thì hãy xảy ra cho mỗi mình em, Sơn ơi… Mọi sự yên lành xin Trời Phật dành cho anh…

Phải là yêu lắm mới có thể giành hết mọi xui rủi về mình như vậy! Ba Nhỏ muốn điên tiết lên vì anh chàng tên Sơn nào đó. Trước khi lên đây, Ba Nhỏ đã được Tám Khuyên hỏi ý là liệu ông và ban an ninh xã có thể bảo lãnh với công an tỉnh cho “gia đình hai thằng Tư Đảnh – Năm Thảnh vì lỡ dại nghe lời dụ dỗ của kẻ xấu ra đi” được tha về giáo dục tại địa phương được không? Cha mẹ Vân thật sự là ai, làm gì, Ba Nhỏ có nhiệm vụ phải tìm cho ra trước khi có thể trả lời cho Tám Khuyên, đồng thời cũng là cho chính anh nếu anh muốn tiến tới với Vân. Ba Nhỏ vào trại Cồn Đất tìm hiểu lời khai của hai gia đình và thấy rõ họ đã bàn bạc thống nhất từ trước. Anh cất công đi xe đò mất hai ngày trời lên tận Pleiku tìm tới địa chỉ Năm Thảnh đã ghi. Căn nhà nằm trong một con hẻm rộng trên đường Lê Lợi gần trường nữ sinh Pleime[31], thuộc khu vực khá giả ở trung tâm thị xã, hầu hết chủ cũ đã bỏ đi, chủ mới bây giờ đều là cán bộ. Tìm mãi mới được một gia đình còn ở lại nhưng nhà tận cuối phố, xác nhận đúng là có một ông thầy giáo Anh văn tên Thảnh từng ở đây, sau ngày quân cộng hòa rút khỏi cao nguyên giữa tháng Ba năm ngoái thì không thấy gia đình ông đâu nữa, có lẽ đã chạy vào Sài Gòn như nhiều nhà chung quanh. Về nhân dạng thì các câu trả lời đều mơ hồ, cái khớp cái không, ông thầy người tầm thước đeo kính thì đúng rồi, còn bà vợ lại hơi mập trong khi bà Năm Thảnh bây giờ ốm nhom ốm nhách – nhưng có thể do chạy loạn và lo buồn nhiều thứ mất ăn mất ngủ mà bà ta sụt kí nhanh chăng? Hỏi về con cái thì họ nói hình như ông ta chỉ có một cô con gái, cho vào học đại học trong Sài Gòn. Đại học hay trung học? Ba Nhỏ hỏi gặng lại thì các nhân chứng đều nói không chắc, thậm chí tên tuổi của cô con gái họ còn không rõ, bởi gia đình ông thầy giáo sống rất kín đáo, ít quảng giao. Da cô ta trắng thì đúng rồi…

[31] Nay là trung tâm bồi dưỡng học sinh giỏi Pleiku.

Chỉ còn một sợi chỉ để Ba Nhỏ có thể lần ra manh mối. Đó chính là Minh Sơn.

Hai chàng trai nhìn nhau trong vài giây và Sơn đã kịp nhìn thấy yết hầu của Ba Nhỏ nhấp nhô lên xuống đầy căng thẳng. Anh quyết định phải tiếp tục hướng đã chọn, để bảo vệ mình và có thể là cả cho Vân:

– Cái đó tôi không rõ! Tôi chẳng biết gì về gia đình cô ấy…

Người Ba Nhỏ run lên bần bật trong một cố gắng tự kềm chế hết sức để không chồm tới quát vào mặt Sơn “Anh nói dối!”. Theo những lá thư của Vân thì họ rất yêu nhau, sao Sơn chẳng biết gì về gia đình của nàng? Và Vân theo gia đình về Hiệp Hưng khi Sơn không hay biết gì, chắc chắn anh phải đang rất mong biết tin tức người yêu. Sao anh lại lạnh lùng và dối trá như vậy?

Nhưng Ba Nhỏ vẫn đủ tỉnh táo để biết mình không nên phản ứng mạnh. Làm sao chứng tỏ anh biết Sơn nói dối? Đưa ra những lá thư của Vân? Anh chẳng sợ gì việc bị kết tội xâm phạm bí mật thư tín của công dân bởi ngành của anh có quyền làm như vậy nếu thấy cần thiết. Điều anh ngại chính là từ đó Sơn sẽ biết Vân đang ở đâu và lập tức đi tìm nàng…

Ba Nhỏ mất ăn mất ngủ vì nhớ Vân từ ngày cả nhà nàng cùng vợ chồng Tư Đảnh ra đi. Sau đó, lá thư thứ ba Vân gởi cho Sơn lọt vào tay anh, xác nhận một tình yêu sâu đậm Vân dành cho người con trai đó. Rồi công an tỉnh báo về danh sách những người ở Hiệp Hưng vượt biển bị bắt… Biết Vân và gia đình đang ở trại cải tạo lao động, lòng Ba Nhỏ hết sức xót xa cho nàng và cho cả chính mình. Anh dự định vài tháng nữa tổ chức kết nạp Vân vào Đoàn, rồi cuối năm nhờ Tám Khuyên đứng ra hỏi cưới Vân cho anh. Giấc mộng đẹp đẽ ấy giờ đã tan tành. Bỏ Tổ quốc ra đi, coi như người phản quốc! Dù được bảo lãnh cho về lại địa phương thì với “thành tích” ấy ghi trong lý lịch của Vân, chắc chắn tổ chức không bao giờ chấp nhận cho Ba Nhỏ lấy nàng.

Nhưng Ba Nhỏ yêu Vân mê mệt mất rồi! Tự lúc nào không biết, hình bóng nàng đã chiếm hết tâm hồn anh, ngày và đêm bất cứ lúc nào ở đâu làm gì anh cũng đều có thể bỗng dưng quên hết mọi chuyện để chỉ nghĩ về Vân. Tâm trạng Ba Nhỏ bị giằng xé rối bời giữa tình yêu và nghĩa vụ. Với con mắt nhà nghề, anh vẫn chưa tin vào lý lịch gia đình Năm Thảnh, nhưng trái tim anh cứ đưa ra đủ lý lẽ bác bỏ nhận định đầy lý trí ấy. Thôi thì coi như hai gia đình Tư Đảnh – Năm Thảnh bị dụ dỗ vượt biên đi, anh sẽ đứng ra xin các thủ trưởng cho họ trở về phấn đấu lại trong vài năm, sau đó tiếp tục kế hoạch cưới hỏi chắc cũng được thôi. Với Vân và gia đình, công trạng bảo lãnh của anh vậy là quá lớn, có lẽ họ khó lòng từ chối. Với tổ chức, Ba Nhỏ đã nghĩ đến chuyện nếu lúc đó vẫn không được cho phép thì anh sẽ xin ra khỏi ngành. Chỉ cần được chung sống với Vân, giá nào anh cũng chấp nhận. Nhưng muốn vậy, cho tới lúc đó, Vân phải không được gặp lại Sơn. Về phần Sơn thì ổn, vì anh ta hẳn đã tin Vân ra nước ngoài rồi, đến lúc nào đó anh ta cũng phải lo lập gia đình. Nhưng về phần Vân, làm sao cấm nàng về lại Sài Gòn để đi tìm Sơn? Đó là một bài toán hết sức nan giải với Ba Nhỏ.

Giữa lúc Ba Nhỏ đang chìm đắm với những suy tính thì Sơn tung ra một câu thăm dò:

– Đồng chí có thể cho tôi coi qua lá thư của Hữu gởi cô Vân không?

Ba Nhỏ thoáng giật mình rồi trấn tĩnh ngay:

– Rất tiếc tôi không mang theo.

Ba Nhỏ ra về, lòng tức tối vì không khai thác được Sơn điều gì. Còn Sơn lại hoang mang không hiểu thật sự anh công an này muốn gì ở mình khi dựng ra một câu chuyện động trời về Hữu như vậy? Nhưng ai cung cấp cho anh ta những cái tên về Hữu, về Vân, rồi địa chỉ nhà Vân, nhà Sơn? Có bao giờ đó lại là chuyện thật hay không? Hay đã có ai trong đám bạn bè mạo nhận tên Hữu?… Ngoài những nghi vấn Sơn tự đặt ra và không thể tự giải đáp được, có một điều anh hoàn toàn không thể ngờ là vào lúc ấy, Vân đang buồn thảm sống trong một trại cải tạo thiếu thốn mọi thứ trên đời và ngày đêm tha thiết nhớ anh như thế nào…

*

* *

Sơn không còn nhiều thời gian để băn khoăn về câu chuyện anh công an đem lại. Ngày 28 tháng Ba năm 1976, một cuộc ra quân chính thức của Lực lượng Thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức rầm rộ tại vận động trường Thống Nhất, với hơn mười nghìn cán bộ đội viên và hàng vạn thanh niên Sài Gòn tham dự. Như những lời hát sôi nổi “Xin chào tạm biệt thành phố yêu dấu…”[32] để “Như những cánh chim bay khắp bốn phương trời…”[33], họ được chia thành mười bốn liên đội, sau buổi lễ lập tức bay đi An Nhơn Tây, Phạm Văn Cội, Tân Phú Trung, Tân Thông Hội, Tân An Hội, Xuân Thới Thượng, Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai, Thạnh Mỹ Lợi, Bưng Sáu Xã… – những vùng đất mà mới trước đó một năm còn là vùng trắng cho bom đạn Mỹ tự do bắn phá – để làm thủy lợi và xây dựng các nông trường phủ xanh vành đai thành phố.

[32] Ca khúc Hành khúc lên đường của nhạc sĩ Vy Nhật Tảo

[33] Ca khúc Đi tới những chân trời của nhạc sĩ Xuân Giao.

Sơn và Liên được phân công về liên đội Quyết Thắng thuộc tổng đội Củ Chi, có nhiệm vụ cùng hai liên đội khác đào một con kênh tưới dài trên ba mươi lăm cây số chạy dài từ tỉnh lộ 10 đến tỉnh lộ 7 và một hệ thống kinh nhánh dài tổng cộng trên một trăm hai mươi cây số để lấy nước từ Rạch Tra – một nhánh sông Sài Gòn – tưới cho hai nghìn năm trăm hecta đất ở vùng đất nắng hạn Tam Tân, giúp người dân ba xã Tân Phú Trung – Tân Thông Hội – Tân An Hội có thể trồng lúa và các loại hoa màu. Sơn là liên đội phó chính trị còn Liên là C phó hậu cần C1 của liên đội. Mỗi người một balô đổ quân xuống vùng đất hoang bạt ngàn đưng lát, họ lại lao vào xây dựng doanh trại, bắt đầu những ngày lao động ác liệt của các chàng trai cô gái thành phố vốn chưa từng quen cầm leng xúc đất, nhất là giữa cái nắng tháng Tư cháy da của vùng đất thép Củ Chi. Trời đổ lửa lên đầu, đất cứng như đá dưới chân, cây cuốc cây leng nóng bỏng trong tay, họ cứ cặm cụi đào, xúc, khiêng, đắp… Cơm trưa ăn tại hiện trường, nghỉ một chút lại làm tiếp cho đủ chỉ tiêu mỗi người một mét khối đất trần thân một ngày, chiều lết được tấm thân nhớp nhúa về tới doanh trại ai nấy cứ bèo nhèo như trái bóng xì hết hơi. Ấy vậy mà chỉ cần rửa qua mặt mũi tay chân, họ lại đổ ra chơi cầu lông bóng chuyền bóng đá ầm ĩ hồi lâu mới chịu vào ăn cơm, những bữa cơm tập thể nghèo nàn độn khoai độn mì vẫn ngon miệng tới chén thứ tư thứ năm chỉ còn nước mắm để chan.

Buổi tối là họp hành, là xóa nạn mù chữ, học bổ túc văn hóa. Khác với đợt thành lập bốn đại đội đầu tiên trước đó tám tháng, mười nghìn đội viên mới là cả một xã hội Sài Gòn thu nhỏ với mọi thành phần tốt xấu, hầu hết là lớp nghèo thành thị, từ cậu học sinh còn nhìn đời bằng đôi mắt trong veo cho tới gã giang hồ xăm mình chằng chịt đêm nào cũng ngồi tập phóng dao vào cột nhà phập phập nghe rợn gáy, cô sinh viên hiền lành nằm kế bên gái làng chơi đang toan giải nghệ thỉnh thoảng hết tiền xài lại trốn về Sài Gòn làm vài “dù”; rồi lính chế độ cũ, dân buôn gánh bán bưng, ở đợ, ghiền xì ke… cùng có mặt đông đủ. Tiếng chưởi thề vang rân trong các doanh trại vào những ngày đầu, rồi nhậu nhẹt đánh lộn đánh lạo, chôm chỉa đào ngũ. Đã xảy ra hai vụ cháy do hút thuốc lào “phê” quá quơ đổ đèn dầu… Liên đội nào cũng có vài chục người mù chữ hoặc chỉ biết đọc biết viết lem nhem. Để giúp họ thay đổi số phận trong xã hội mới, ngoài chuyện lao động để trở thành người có ích, mỗi đơn vị đều tổ chức những lớp học hàng đêm. Là liên đội phó chính trị, Sơn phụ trách luôn các lớp học đó đồng thời còn trực tiếp dạy vài buổi trong tuần. Ngày lao động hiện trường, tối đứng lớp, ăn uống cực khổ, chỉ sau hai tháng Sơn đã sụt bốn kí, trên mặt chỉ còn nhìn thấy đôi mắt. Niềm an ủi cuối cùng của anh giờ chỉ còn cây ghita, vì con Ariel bỗng biến mất không để lại chút dấu vết. Có thể nó đã tự tìm một chỗ khuất để chết như mọi con mèo khác vào cuối đời, nhưng cũng không loại trừ khả năng nó bị các đồng đội bặm trợn mới của Sơn bắt làm mồi nhậu. Buổi tối lên võng ngủ gọi cả chục tiếng không thấy con mèo đâu, Sơn hốt hoảng xách đèn pin đi lùng khắp doanh trại. Bằng chứng sống động duy nhất còn sót lại của chuyện tình giữa anh và Vân đã biến mất không còn tăm tích.

Một chuyện tình khác, dù mới một chiều, bắt đầu len vào. Doanh trại C1 nằm sát văn phòng ban chỉ huy liên đội, nên ban hậu cần C được giao lo luôn chuyện bếp núc cho các thủ trưởng, giúp nàng đại đội phó hậu cần tha hồ có dịp chăm sóc chàng liên đội phó chính trị. Đêm đi dạy về, trên bàn Sơn thường có một cái lồng bàn đậy sẵn, bên trong không phải tô mì ăn liền còn bốc khói thì cũng là chén chè chén cháo. Dàn chỉ huy liên đội ai cũng biết tấm lòng của Liên dành cho Sơn. Thoa, liên đội phó hậu cần, là người đốc vào mạnh mẽ nhất. Lúc đầu cô nhận đó là tiêu chuẩn bồi dưỡng cho người làm việc đêm hôm do cô quyết định và nhờ chị nuôi C1 thực hiện, nhưng rồi một hôm Sơn cho lớp học tan sớm hơn mọi lần, về tới văn phòng thì thấy chính là Liên đang bưng tô mì đặt lên bàn mình. Cô thẹn thùng không dám nhìn Sơn, mặt dễ thương gì đâu! Thật kỳ lạ, cuộc sống gian khổ chỉ làm người Liên thon chắc hơn, và mái tóc mượt buông xõa thoang thoảng mùi chanh vừa gội trong căn phòng chỉ có hai người với một ngọn đèn dầu càng làm cô thêm quyến rũ.

Liên đội trưởng Ba Lộc nằm ở phòng ngủ phía trong chợt cười he he nói vọng ra:

– Rồi! Hoàng tử bắt quả tang cô Tấm chui từ lu gạo ra nấu mì cho mình! Coi như xong!

Liên đội phó thi công Hai Hoàng nằm kế Ba Lộc cũng hô to:

– Lấy trái thị của cô Tấm nhai nuốt lẹ đi hoàng tử!

Liên mắc cỡ bỏ chạy ra ngoài trong tiếng cười ầm ĩ của Lộc và Hoàng, nãy giờ nằm im re dòm qua mấy khe hở của tấm vách lồ ô chờ xem sự kiện hấp dẫn.

Tấm lòng của Liên làm sao Sơn không hay? Vầng mây trắng của đời anh cứ mãi bay xa mịt mù không tung tích – lần nào về họp ở lực lượng Sơn cũng ghé nhà cũ nhưng vẫn không hề có lá thư nào của Vân gởi cho anh – trong khi bên cạnh Sơn đã có sẵn một cô gái đáng yêu như thế! Lẽ nào Vân có thể quên Sơn quá nhanh như vậy? Hay cô đã gặp phải một chuyện không may? Trong những ngày biến động khủng khiếp cuối tháng Tư ấy, quá nhiều chuyện đau lòng đã xảy ra. Người ta đạp chết nhau tìm một chỗ lên tàu lên máy bay, người ta tuyệt vọng tự sát cả gia đình, người ta bị bắn giết cướp bóc… Vân đang ở đâu mà sao vẫn không một tin tức cho Sơn?

Biết Liên thương mình nhưng Sơn không thể đón nhận, vì anh tự thấy lòng không hề yêu cô. Chỉ một lần xúc động duy nhất ở “Vườn địa đàng” nhưng là sự xúc động sinh lý bình thường, không đủ để Liên đánh bạt được hình bóng Vân trong tim Sơn. Càng gần gũi Sơn càng thấy Liên hầu như không có điểm chung với mình, làm sao anh có thể yêu cô? Nhưng, cũng làm sao anh có thể từ chối tấm lòng của cô dành cho mình?

Công việc ngày càng gấp rút, hết đợt lao động chào mừng một năm ngày thống nhất đất nước là cũng chấm dứt “chỉ tiêu làm quen”, công suất đào kinh được nâng lên một mét khối rưỡi một người một ngày, sao cho đến cuối năm phải dứt điểm tuyến kinh để còn đi làm việc khác. Trong khi đó, cuộc sống ngày càng khó khăn hơn. “Bầu sữa” viện trợ Mỹ không còn, rồi việc đưa đồng ruộng miền Nam vào hợp tác xã, việc ngăn sông cấm chợ… đã gây hậu quả thiếu thốn lương thực trầm trọng cho cả nước. Như toàn xã hội lúc đó, các đơn vị thanh niên xung phong dù lao động nặng vẫn phải ăn mì sợi trộn cơm, có lúc chỉ có khoai lang sùng, bột mì hấp. Đến khi phải nhai nuốt những hạt lúa mì, bo bo cứng còng “vào sao ra vậy”, sức người khỏe nhất cũng chịu không nổi. Số đào ngũ tăng nhanh, muốn đảm bảo kế hoạch thi công phải hạn chế thấp nhất lực lượng lao động gián tiếp. Toàn ban chỉ huy liên đội cùng ra hiện trường như mọi người, thậm chí phải lao động nhiều hơn để làm gương, rồi họp hành, đứng lớp, buổi tối về tới phòng là toàn thân rã rời. Làm sao Sơn có thể lắc đầu trước tô mì chén cháo thơm phức nóng hổi, nhất là trong những đêm mưa lạnh mà cái bụng trai tráng đang sôi lên vì đói? Trong cố gắng làm người tử tế, anh chỉ biết giao hết các tiêu chuẩn nhu yếu phẩm cùng một phần sinh hoạt phí ít ỏi hàng tháng cho Liên và nhắc nhở cô không được lấy của tập thể để lo cho anh. Hành động đó trước mọi người chỉ làm Liên vui hơn bởi càng chứng tỏ Sơn là của cô. Nhưng bảo cô đừng thu vén của chung thì cô lấy đâu ra tiền để lo bồi dưỡng cho Sơn và cả ban chỉ huy liên đội? Lương thực ăn dư – mỗi đội viên thanh niên xung phong có tiêu chuẩn tháng đến hai mươi mốt kí – rồi tiền ăn, nhu yếu phẩm, sinh hoạt phí của những người đào ngũ chưa kịp báo cáo, được Liên gom lại thành một quỹ riêng. “Mình có xài cho mình đâu mà sợ”, Liên tặc lưỡi nghĩ.

Như để đáp ứng lại hàng triệu giọt mồ hôi của mấy nghìn con người đã đổ xuống, con kênh Tam Tân dần dần hiện ra. Mừng ba mươi mốt năm ngày thành lập nước, là một đợt lao động quyết liệt hơn trên toàn công trường, cả ngày lẫn đêm không hề chia ca, cứ ai mệt là chạy ra ngoài lăn ra ngủ, tỉnh lại xông vào làm tiếp. Chứng kiến cảnh anh em làm việc đến ngất xỉu trên bờ kinh, cảnh đào đắp ban đêm dưới ánh đuốc lập lòe hùng tráng, tòan tuyến kinh như một con rồng lửa rùng rùng chuyển động, Sơn xúc động viết ca khúc đầu tiên trong đời:

… Quyết thề quyết dứt điểm công trình đào kinh

Kinh dù sâu nhưng lòng ta đâu sá chi

Khi con kinh chưa xong chân tay ta bồn chồn

Khi con kinh chưa xong lòng ta như lửa cháy… [34] [34] Xin mượn lời ca khúc của Nguyễn Đức Tập, một đội viên TNXP ở Củ Chi năm 1976.

Hành khúc Dứt điểm lập tức được cả đơn vị thuộc lòng và cùng hát vang trên hiện trường, hát tập thể trong các buổi sinh hoạt văn nghệ cuối tuần ở liên đội, rồi đoạt giải nhất hội diễn toàn lực lượng nhân ngày Quốc khánh, huy chương vàng hội diễn văn nghệ quần chúng cấp thành phố, được một tờ báo đăng kèm bức ảnh của Sơn và vài dòng về anh, một sinh viên văn khoa gác bút nghiên ngay sau ngày giải phóng, tình nguyện khoác áo thanh niên xung phong đi xây dựng quê hương. Bỗng chốc trở thành người nổi tiếng, Sơn hào hứng viết tiếp vài bài nữa, nhanh chóng được nhìn nhận như một nhạc sĩ nghiệp dư trong đội ngũ. Trong mắt Liên, anh càng sáng rỡ hơn bao giờ hết.

Và chàng nhạc sĩ đang lên ấy đã gặp tai nạn đầu tiên trong đời, vào một chiều cuối năm…

*

* *

Chiếc CJ-5 chạy bon bon trên đường từ nội thành ra Củ Chi, phía sau kéo theo một rờ-mọt chở đầy thực phẩm mua ở chợ Cầu Ông Lãnh về cho đơn vị ăn Tết: ba con heo xẻ dọc nằm vắt ngang, đè lên những bao nếp, đậu xanh, lá dong, rau cải, hành tỏi, mắm muối… Ngồi sau tay lái là Hai Hoàng, có vẻ điệu nghệ dù… không hề có bằng lái. Mê xe hơi từ nhỏ, chỉ đến khi làm liên đội phó thanh niên xung phong anh mới có dịp cầm vôlăng chiếc Jeep capô cao chạy rất nhanh vốn chỉ được chế độ cũ trang bị cho ngành cảnh sát. Phục vụ nhu cầu đi lại về thành phố hội họp, chuyên chở hậu cần, tải thương…, mỗi liên đội được cấp một chiếc Jeep chiến lợi phẩm, xe quân đội Mỹ vừa mạnh vừa dễ lái. Dĩ nhiên kèm theo xe là một tài xế được phòng hậu cần lực lượng tuyển dụng, có bằng lái hẳn hoi. Trần Thuận về làm tài xế cho liên đội Quyết Thắng chỉ vài ngày là đã được anh liên đội phó thi công mon men ra gạ hướng dẫn cho cầm lái thử. Trong dàn chỉ huy liên đội, Thuận chịu Hoàng nhứt vì tính anh chịu chơi, dễ gần, ngày nghỉ sẵn sàng nhậu tới bến với lính lác. Chỉ cần Thuận chỉ qua một lượt về kỹ thuật vận hành, Hoàng đã lái ngon lành chiếc Jeep chạy vòng vèo trên mấy con đường làng quanh doanh trại. Sau vài lần như vậy Hoàng đã hiên ngang cầm lái đưa ban chỉ huy liên đội ra họp ở tiền trạm ban chỉ huy tổng đội nằm bên hông đình làng Tân Phú Trung. Một lần Thuận bị bệnh, Hoàng tự lái hơn ba mươi cây số vào thành phố đi họp kết hợp nhận vật tư cho đơn vị, cả ban chỉ huy liên đội cũng chủ quan coi như chuyện bình thường, thậm chí còn khen anh có khiếu làm “cán bộ đường lối”.

Ngồi phía trước bên tay phải của Hoàng là Sơn. Băng ghế sau có Trần Thuận và Dung, quản lý liên đội. Bốn người vừa về thành phố cho Sơn và Hoàng đi họp, Dung tranh thủ đi theo ghé chợ Cầu Ông Lãnh mua đồ ăn Tết cho đơn vị. Về đến ngã tư An Sương ngừng xe uống nước mía, Hoàng đòi “cho ngộ lái”. Thấy đã ra ngoại thành đường vắng, Thuận giao xe cho Hoàng, dặn chạy chậm thôi rồi ra sau ngồi tán tỉnh cô quản lý người tròn vo mát mắt, chỉ thỉnh thoảng liếc mắt ra trước nhắc chừng sếp.

Qua Trung Chánh vào Hốc Môn, quốc lộ bắt đầu trống trơn. Hoàng nhấn chân tăng ga cho kịp về trước khi trời tối. Qua khỏi cầu Bông vào địa phận Củ Chi là một đoạn đường vừa cong vừa dốc. Hoàng đang cho xe băng băng đổ xuống, bất ngờ thấy một thằng nhóc đạp xe đạp từ trong con hẻm bên phải băng ra đâm thẳng qua đường ngay trước mũi xe của anh! Hoàng vừa đạp hết thắng vừa bẻ quặt tay lái qua trái. Nếu không có cái rờ-mọt thì có lẽ đã không có chuyện gì xảy ra. Nó hất tới trước và bị lực ly tâm ném ngang vật cả chiếc Jeep lật tung bốn bánh lên trời, sắt thép chà sát trên mặt đường tóe lửa gặp xăng chảy ra bùng cháy như ngọn đuốc…

Tỉnh dậy trong bệnh viện Củ Chi, người đầu tiên Sơn thấy chính là Ngọc Liên. Cặp mắt đầy âu lo của cô bừng sáng nhìn anh. Sơn nhớ ngay ra mọi chuyện:

– Mọi người có bị sao không Liên?

Liên chỉ im lặng cúi mặt. Sơn chồm tới rồi nhăn mặt vì đau, ngã vật xuống:

– Nói anh nghe đi!

Liên thở dài:

– Dung và anh Thuận chết rồi! Anh Hoàng bị thương nặng hơn anh, đã chuyển về Chợ Rẫy…

Những người chứng kiến vụ tai nạn kể lại khi họ ùa tới cứu, dập tắt được lửa thì mọi chuyện đã xong. Ba người kẹt trong xe đều bị thiêu cháy, đem ra đã thấy chết hai. Người văng ra khỏi xe – chính là Sơn – thì bị gãy chân và chấn thương nhiều nơi. Mùi thịt người, thịt heo và vỏ cao su bị cháy pha trộn nhau hôi tanh đến ngạt thở.

Liên đội trưởng Ba Lộc vào thăm Sơn, đuổi Liên ra ngoài rồi kề tai anh hỏi nhỏ:

– Ông Hoàng cầm lái phải không?

Sơn khẽ gật đầu. Lộc thầm thì:

– Đừng nói ai biết nghe chưa. Cứ coi như thằng Thuận lái đi. Mà ai lái thì trong trường hợp đó cũng khó tránh được tai nạn. Lỗi chính là do thằng nhỏ đâm xe qua đường, nhưng mình thì lại chạy quá nhanh. Nói ra chẳng cứu vãn được gì, chỉ thêm tội cho ông Hoàng.

Nhưng làm sao họ có thể giấu được những anh công an chuyên điều tra tai nạn giao thông? Sau Tết Đinh Tỵ, tháng Ba năm 1977, bình phục thương tích, Sơn bị điều về phòng tổ chức tổng đội nằm chờ bố trí công tác khác, vì phải chịu trách nhiệm đồng tình giao xe cho người không có bằng lái điều khiển gây tai nạn nghiêm trọng. Ngọc Liên do cứ tìm cách chạy về thăm anh, bị các sếp ở phòng tổ chức để ý, chuyển cô lên Xuyên Lâm trở lại. Điều bình thường ở thanh niên xung phong giai đoạn đó. Chuyện trai gái yêu đương không hề được khuyến khích, nếu phát hiện là lập tức tách hai người ra thật xa, coi như tạo điều kiện thử thách.

Gần hai tháng ăn không ngồi rồi ở văn phòng, bị mọi người nhìn như một người có khuyết điểm… gây chết người, Sơn chỉ còn biết giải phá cơn sầu bằng ly rượu và cây guitar. Lúc đó cơ quan tổng đội đã dời từ đình Tân Phú Trung về ngã tư An Sương, gần chợ Bàu Nai, chợ cầu Đông Hưng Thuận, quán xá đông vui hơn. Đêm nào Sơn cũng uống, không với anh em cấp thấp ở văn phòng thì cũng ra quán gầy sòng với dân nhậu địa phương, không ai đấu nổi tửu lượng của anh. Rượu đế Bà Điểm nuốt vào bụng cứ như nuốt lửa, vậy mà anh có thể uống tì tì cả lít, mồi nhậu chỉ cần đậu phộng, cóc ổi. Khuya về – Sơn xin một chiếc giường trong phòng ngủ của tổ bảo vệ gần cổng để dễ đi lại không làm phiền ai – trong nỗi ngầy ngật nhớ Vân, anh lại ôm đàn…

Trưởng phòng tổ chức Năm Bông trong một đêm khó ngủ nằm nghe tiếng đàn của Sơn văng vẳng từ xa chợt sực nhớ tới khả năng đàn hát và sáng tác của Sơn. Cú sốc từ tai nạn sẽ khiến Sơn rất khó tập trung cho việc lãnh đạo, cái chân gãy dù đã lành cũng làm anh không đủ sức lao động với anh em, là những lý do khiến tổ chức đang chưa biết nên bố trí anh vào công tác gì.

Vài hôm sau, chị mời Sơn lên:

– Lực lượng của mình ngày càng phát triển, lao động vất vả lại xa thành phố, đời sống tinh thần thiếu thốn, cần phải đẩy mạnh các hoạt động văn thể mỹ cho anh em giải trí và phát triển năng khiếu. Ban chỉ huy lực lượng vừa quyết định thành lập đội phong trào gồm văn nghệ, bóng chuyền, bóng đá, tuyển chọn tài năng từ các đơn vị về bồi dưỡng, luyện tập… để đi thi đấu và phục vụ lưu động các nơi. Đồng chí rất có năng khiếu âm nhạc, về làm phó ban văn công được không? Đó cũng là một nhiệm vụ rất quan trọng. Anh em từ nhiều nơi về, dân văn nghệ không dễ quản lý, rất cần một người vững vàng về chính trị lãnh đạo…

Chị Năm Bông ngừng nói, nhìn thẳng vào mắt Sơn:

– Tôi nghe đồn đồng chí uống rượu dữ lắm phải không?

Sơn chỉ im lặng. Chị Năm Bông thở dài, giọng chuyển sang nhỏ nhẹ, tâm tình:

– Tôi biết Sơn đang có chuyện buồn phiền. Nhưng rượu không giải quyết được gì, lại tàn phá sức khỏe, hư hết sự nghiệp… Sơn từng là một cán bộ rất năng nổ, gương mẫu. Về lãnh đạo đơn vị mới, em cần tập trung cho công tác, không nên uống nữa. Người uống rượu nhiều, nói ai nghe? Cũng chẳng làm được việc gì đáng kể đâu.

Sơn ôm đàn lên xe về bản doanh đội phong trào nằm trong nội thành. Văn Quang, trưởng ban văn công, nồng nhiệt tiếp anh:

– Chào tác giả của Dứt điểm! Ông kiêm nhiệm giúp tôi chức tổ trưởng tổ nhạc nhé.

Ban văn công còn có tổ hát, do chính Văn Quang, từng học thanh nhạc trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn, phụ trách; tổ kịch, do Quốc Thịnh, nhờ chuyên diễn tấu hài phục vụ anh em ở tổng đội Bình Chánh mà được tuyển về làm tổ trưởng; và cuối cùng là tổ chiếu phim của Triều, với một chiếc máy chiếu bóng cũ kỹ xin được từ Công ty chiếu bóng. Toàn ban tổng cộng khoảng ba mươi người, bằng quân số một trung đội, bắt đầu tập dợt trong điều kiện hầu như chưa có gì trong tay, nhạc cụ phần lớn mang từ nhà lên. Họ được bố trí ở tập thể trong một căn nhà lầu ba tầng, ngày trước là một khách sạn nhỏ chủ cũ đã bỏ chạy, Sơn và Văn Quang chung phòng.

Sơn hòa nhập vào đơn vị mới rất nhanh. Chỉ có điều, gương mặt luôn phảng phất nỗi buồn của anh càng trầm lắng hơn. Và, bất chấp lời khuyên của chị Năm Bông, Sơn vẫn thường uống và uống nhiều, đến mức Văn Quang đã đặt nghệ danh cho anh là Lưu Sơn, cháu trăm đời của thần tửu Lưu Linh!

Cuộc sống vùn vụt trôi.

Trên hai chiếc GMC, ban văn công bắt đầu những cuộc du hành đường trường miệt mài, lần lượt xoay tua đến từng liên đội thanh niên xung phong, ca hát – diễn kịch – chiếu phim giúp vui đồng đội. Chỉ là văn nghệ nghiệp dư nhưng được diễn nhiệt tình đầy cảm hứng, lại trong tình hình quá thiếu thốn chuyện giải trí, ban văn công “Sống Giang” – vì cứ diễn xong ngủ lại một đêm đến sáng là cuốn gói giông tiếp – của Văn Quang luôn được anh em chờ mong. Cứ thấy bóng hai chiếc xe quen thuộc xuất hiện từ xa cuốn theo bụi đường mù mịt phía sau là anh em ở các đơn vị lại mừng rỡ reo hò và các chị nuôi lập tức chuẩn bị một thực đơn tiếp đón các “nghệ sĩ nhân dân”, không thể thiếu buổi chè cháo bồi dưỡng về khuya do ban chỉ huy chiêu đãi.

Có một người trong ban hậu cần Trường thanh niên mới ở Xuyên Lâm đặc biệt mong chờ sự trở lại của ban Sống Giang. Đó chính là Ngọc Liên. Từ ngày bị điều lên Xuyên Lâm, hàng tuần Liên đều viết thư cho Sơn, những lá thư đầy rối rắm, vụng về che giấu mối tình rừng rực trong cô, gởi theo những chuyến xe hàng lên xuống của tài xế Khang. Thỉnh thoảng Sơn cũng hồi âm vài dòng cho Liên, không hề biết cô mừng như thế nào mỗi khi nhận được thư. Giáp tua các đơn vị để ban văn công trở lại Xuyên Lâm phải mất hai tháng, đây là nơi xa thành phố nhất và tít trong rừng nên Văn Quang luôn dành ưu tiên ở lại đây diễn luôn ba đêm. Thật ra anh quyết định như vậy còn là vì Sơn và vì cả đội. Mối tình Liên dành cho Sơn còn ai trong ban không hay biết? Trong những ngày đó mặt mày Liên sáng rỡ, tíu tít ra tận chợ Bà Rịa mua thực phẩm tươi ngon về nấu chiêu đãi cả ban, phục vụ cà phê thuốc lá đồ nhậu phủ phê… Cô còn chuẩn bị sẵn những hũ rượu thuốc ngâm bao tử nhím, mật gấu, heo rừng hà nàm[35]… mua được từ những người thợ săn để Sơn uống với anh em. Phải nói là không ở đâu ban văn công sướng bằng ở Xuyên Lâm.

[35] Hà nàm: bào thai còn trong bụng

Không nỡ hắt hủi tấm lòng của Liên, Sơn chấp nhận ngồi kề bên cô trong các bữa ăn, được cô rót rượu, gắp thức ăn, phục vụ như một ông hoàng. Thế nhưng gương mặt anh vẫn thản nhiên như không. Tàn tiệc, nằm ngủ gần Sơn, Văn Quang bực bội:

– Ê Sơn, tôi thấy Ngọc Liên được quá, sao mặt ông cứ lạnh như tiền vậy? Vừa phải thôi cha! Người đẹp như vậy, thương ông như vậy, ông còn muốn gì nữa?

Quốc Thịnh cười hô hố:

– Người ta chơi xì-tin “chạy tình, tình theo” mà ông không biết à? Phải như vậy em Liên mới càng mê mẩn chứ!

Văn Quang càu nhàu:

– Như vậy là chơi ác chứ xì-tin quái gì? Ông không thấy cả đám sĩ quan lính lác trên trường này đang theo đuổi em Liên và ganh tỵ với ông ra mặt sao? Làm phách quá nó chán nó bỏ theo thằng khác thì lúc đó ngồi khóc nghe con!

Thức giấc khi anh em còn say ngủ, Sơn ra tập vài động tác thể dục rồi đi dạo một vòng doanh trại. So với những ngày bọn anh mới đổ quân lên đây, khung cảnh đã khác hẳn. Doanh trại hai C Hùng Tâm và Dũng Chí nay đã nối lại làm một, khu vực ở giữa được dọn sạch để xây dựng các dãy nhà ngủ cho học viên, bao bọc chung quanh là hai lớp hàng rào kẽm gai cao mút đầu, rồi thư viện, căntin, trường học, hội trường, trại cưa, xưởng mộc, xưởng cơ khí… hoạt động ồn ào tấp nập. Cảnh cũ đã khác mà người xưa giờ cũng đi đâu tứ tán!

Bước chân Sơn lại tự động hướng vào rừng. Mới được một đoạn, anh đã nghe có tiếng chân rón rén theo sau, rồi một giọng nói run rẩy vang lên:

– Anh Sơn nhớ rừng à?

Sơn giật mình quay lại. Chính là Ngọc Liên, với gương mặt ửng hồng cố giấu nỗi thẹn thùng. Cô vẫn mặc chiếc áo len đỏ ngày nào, nay đã sờn cũ, phai màu. Như lại hiện lên trước mắt Sơn cảnh đêm lửa trại trước đó hai năm, với Ngọc Liên đẹp lồ lộ trong chiếc áo này, rồi cảnh cô tắm suối và thay quần áo ngay trước mắt Sơn lại choáng ngộp ào về. Sao người con gái này lại yêu anh đến vậy? Lúc chưa bị điều đi Xuyên Lâm, cứ vài ngày là cô lại theo xe chợ từ Củ Chi về Sài Gòn vào Chợ Rẫy thăm anh. Mấy hôm đầu, ba Sơn chưa kịp lên, cô gội đầu cho Sơn, cắt móng tay móng chân, vắt khăn ướt lau mình, làm cả chuyện đổ bô cho anh không chút nề hà… Sơn lại nghĩ đến Vân. Nàng có yêu anh đến mức như vậy không hay chỉ là những xúc động đầu đời của một cô gái con nhà quyền quý để rồi nhanh chóng quên ngay? Bằng chứng là hơn hai năm rồi mà Sơn vẫn chưa hề nhận được một thông tin nào từ Vân, trong khi Hữu từ Mỹ đã gởi thư về nhà cũ cho Sơn không lâu sau ngày Ba Nhỏ tìm anh với một câu chuyện bịa đặt. Sơn viết thư hỏi Hữu biết tin gì về Vân không, nhưng Hữu hoàn toàn không biết. Vầng mây trắng của anh giờ đang bay đến tận phương trời nào?

Hai người chầm chậm bước. Rừng buổi sáng tinh khiết, êm ả lạ thường, nghe rõ từng tiếng lào xào của những chiếc lá khô dưới chân và tiếng ríu rít của bầy chim trên cao chào đón người quen cũ. Hơi ấm ban mai làm những hạt sương đêm rịn trên các phiến lá tan ra thành dòng nhỏ giọt lách chách đây đó. Lại mùi hương chanh từ tóc Liên thoang thoảng bay sang. Cô đang đi kề bên Sơn, mặt đầy hạnh phúc. Thấy Sơn chăm chú nhìn qua, cô e thẹn ngó lơ, quá dễ thương! Sơn thở dài, vòng tay qua ôm lấy vai Liên. Cô lập tức ngã ngay vào người anh. Cái hôn cô gái chờ đợi suốt hai năm ập tới, ào ạt và mạnh mẽ. Đôi môi dày của Liên phủ trọn môi Sơn, ngấu nghiến nuốt chúng. Chính là Sơn muốn ngạt thở chứ không phải Liên. Anh phải tựa người vào một thân cây để đón nhận tình yêu đang tràn từ môi Liên qua, trong một cảm giác đê mê lạ lẫm khi đổi ngược vị trí hứng chịu sự chinh phục…

*

* *

Biến động xảy đến dồn dập, khiến nhiều chuyện tình ái riêng tư phải bị gác lại. Tháng Chín năm đó, quân Khmer đỏ đột ngột tấn công Tây Ninh, tàn sát hàng nghìn người dân ở Xa Mát, Tân Lập, sau đó liên tục xâm phạm biên giới Việt Nam với ý định “đòi lại lãnh thổ” đến tận nơi nào còn có cây thốt nốt. Tuổi trẻ lại ào ạt lên đường tòng quân. Nền kinh tế đang ì ạch cõng chế độ bao cấp với “mỗi quận huyện là một pháo đài của chủ nghĩa xã hội”, càng khó gượng dậy khi phải dốc sức cho cuộc chiến mới. Tháng Mười một, một số đơn vị Thanh niên xung phong bắt đầu được điều đi phục vụ chiến trường. Ban văn công cũng phải theo ra tuyến trước và ca khúc Những cánh lan xanh trong lửa đạn của Sơn viết về các cô gái áo xanh gian nan cáng thương tải đạn ra đời đã làm rưng rưng nước mắt bao người.

Vẫn đang trong tình trạng chiến tranh, tháng Ba năm 1978 lại diễn ra đợt cải tạo tư sản thương nghiệp trên toàn miền Nam. Hàng hóa bị trưng thu sạch, các nhà tư sản còn bị đưa đi sản xuất xa thành phố. Nắm một số tài sản khổng lồ trong tay, nhà nước loay hoay đưa chúng vào cơ chế sản xuất của nền kinh tế kế hoạch với “quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”, bất chấp khả năng kinh doanh yếu nhớt của cán bộ và động lực làm ăn không có. Tình hình càng rối rắm hơn khi hai tháng sau, nhà nước cho đổi tiền lần thứ hai[36] để thống nhất tiền tệ trên cả nước và nắm chặt lại hoạt động tài chính. Nhiều nhà tư sản gốc Hoa bị đàn áp cộng với việc chế độ Pol Pot được Bắc Kinh đỡ đầu có nguy cơ bị Việt Nam đánh sập, khiến đầu tháng Sáu bùng nổ thêm vấn đề “nạn kiều”[37], chính quyền Trung Quốc tuyên bố cắt viện trợ, rút chuyên gia, đón người Việt gốc Hoa về… rồi bất ngờ xua quân tấn công tàn phá vùng biên giới phía Bắc…

[36] Ngày 3 – 5 – 1978

[37] Cách chính quyền Trung Quốc lúc đó gọi những người Hoa ở VN.

Mọi số phận đều như bọt bèo trong cơn lốc xoáy.

Sau độ nhậu tất niên ở phòng kế hoạch lực lượng kéo dài từ trưa đến tối, Sơn về phòng, chữa cháy bằng mười phút dội nước tắm nhưng vẫn say nhừ. Hôm nay trưởng phòng Đoàn Nhị đãi khách bằng rượu rhum Hiệp Hòa uống sec có cái hậu rất hỗn, mấy lần Sơn uống rượu này đều không ngủ được, người phừng phừng như có lửa cháy trong đầu, có lúc còn bị liệt mất những sợi dây thần kinh thị giác nào đó khiến hai mắt chỉ còn nhìn được âm bản mọi quang cảnh như trong một tấm phim chụp ảnh. Anh đã về Cái Bè thăm cha mẹ từ hôm ông Táo về trời, nhường suất về quê ăn Tết cho Văn Quang, nên giờ chỉ còn một mình là đà trong căn phòng vắng một đêm chủ nhật cả thành phố cúp điện tối thui và lạnh ngắt vì một cơn mưa trái mùa cuối năm. Bên trong leo lắt ngọn đèn dầu, bên ngoài thì trời mưa rì rầm, buồn rã rời! Cây guitar trong tay Sơn rên lên mấy tiếng và anh hát:

– Chiều chủ nhật buồn, nằm trên căn gác đìu hiu, ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều, trời mưa trời mưa không dứt, ô hay mình vẫn cô liêu…

Bất cứ lúc nào buồn người ta cũng có thể hát nhạc Trịnh Công Sơn, với những lời ca nhè nhẹ tự vỗ về thân phận mình. Đìu hiu, xanh xao, cô liêu… Sơn đã viết được thêm chừng chục bài hát, nhưng tự thấy mình không thể nào sử dụng tính từ tuyệt diệu như nhà phù thủy ngôn từ họ Trịnh. Vả lại cái tập thể mà anh đang phục vụ chỉ yêu cầu những ca khúc lạc quan, mạnh mẽ. Họ muốn con người lúc nào cũng phải nhe răng ra cười và tưng tưng đi tới, dù đang có chuyện buồn muốn chết phứt cho xong hoặc lao động nhọc nhằn thế nào đi nữa. Cuộc sống ngày càng khó khăn, gạo không đủ ăn, lương không đủ xài, cúp điện một tuần năm ngày, mọi thứ nhu yếu phẩm muốn mua đều phải chầu chực xếp hàng… Chính sách sử dụng người chỉ dựa trên lý lịch chặn mọi con đường vào đời và cơ hội thăng tiến của những ai lỡ có gia đình dính dáng đến chế độ cũ, tạo nhiều bất công, phân tán nhân tâm… Những hào hứng sôi nổi ban đầu đã lắng xuống, nhường chỗ cho tâm trạng mệt mỏi, thất vọng. Để gây thêm rối ren, các nước tư bản mở rộng cửa nhiều trại tị nạn và chấp nhận cho thuyền nhân nhập cư, khiến ngày càng có nhiều người vượt biên ra nước ngoài, chấp nhận trả giá bằng tù đày và mạng sống. Trong tình hình đó, phổ biến hằng ngày trên đài vẫn là các ca khúc vui tươi, yêu đất nước yêu lao động. Những bài hát buồn của Trịnh và của bất cứ ai khác tiếp tục không có đất sống trong chế độ mới[38], dù trong lòng người thì chúng cứ mãi tồn tại, bất diệt.

[38] Đến tận thập niên 1990, một số ca khúc cũ của Sài Gòn trước năm 1975 mới được xem xét cho phổ biến lại.

Cứ mãi tồn tại, bất diệt như hình bóng của Vân trong Sơn. Gương mặt nàng vẫn quẩn quanh trong anh, lúc nào cũng có thể hiện về đầy ắp tâm trí, khiến nhiều lúc anh cứ ngồi thừ người không thể làm được việc gì hàng giờ liền. Từ sau cái hôn đầu tiên với Liên trong buổi sáng giữa rừng Xuyên Mộc, có vẻ như Sơn đã chấp nhận cô là người yêu của mình, dù thật lòng anh chưa thể quên Vân. Nhưng biết làm sao, khi người tình ấy đã mất hẳn tăm tích mà bên Sơn đang có một cô gái khác quá gần, thương anh gần như mê muội. Liên không thể thay thế được Vân, nhất là về mặt tâm hồn, nhưng cô đang có thật, nở nang xinh đẹp, trong tầm tay Sơn. Sơn hối tiếc ngay tức thì sau khi hôn Liên, cảm thấy có lỗi với cả hai – người mà anh đang phụ bạc và người mà anh chưa thật lòng yêu nhưng đã dễ dãi đón nhận. Có phải con trai thường vậy không? Không yêu, họ vẫn có thể thoải mái hưởng thụ tình yêu người khác dâng tặng, với đầy đủ cảm xúc và thỏa mãn?

Sau khi viết được vài ca khúc gây nhiều tiếng vang trong và ngoài lực lượng Thanh niên xung phong, Sơn được tổ chức cho đi học khóa bồi dưỡng sáng tác ở Nhạc viện thành phố. Sài Gòn vẫn yên ả với những con đường rợp lá me bay ngày hai buổi đạp xe đi về càng làm Sơn sống lại với những kỷ niệm ngày xưa bên Vân. Từ Nhạc viện trên đường Nguyễn Du, anh vòng về Nguyễn Bỉnh Khiêm để chầm chậm đạp qua cổng trường Võ Trường Toản rồi Trưng Vương, thỉnh thoảng lại dừng xe “đứng mãi trông vời áo tiểu thư”, tưởng chừng như vừa mới thấy Vân cùng các cô bạn ríu rít chạy xe qua, chớp mắt một cái lại ngỡ ngàng chỉ còn mình anh trên con đường vắng.

Nhận ra mình còn quá yêu Vân và không hề nghĩ nhiều đến Liên, Sơn áy náy không dám liên lạc với cô suốt hai tháng nay. Gần chục lá thư Liên gởi về, Sơn chỉ trả lời vài dòng lạnh lùng: “Anh đang bù đầu vì chương trình học rất căng. Anh xin lỗi Liên về chuyện hôm nọ. Anh hư lắm, sợ không hợp với Liên đâu…”. Sơn không thể biết khi con trai tự nhận là mình hư thì lại thường được con gái thương hơn, với một mong muốn ngây thơ là sẽ dùng tình yêu của mình cứu vớt anh ta thành người tốt.

Trong lúc Sơn vừa đàn vừa ngầy ngật nghĩ về Vân về Liên với những hình ảnh đan xen nhau đầy rối rắm thì bỗng có tiếng gõ cửa phòng rụt rè vang lên. Sơn ngạc nhiên nhìn đồng hồ. Ai lại đến tìm anh sau mười giờ khuya thế này? Chắc chắn không phải anh em trong đội, vì họ không bao giờ gõ cửa nhẹ như vậy. Sơn ra mở cửa, ngạc nhiên thấy Liên đầu tóc ướt đẫm, mặt tái mét đứng nhìn anh. Bụi đỏ đường xa vẫn còn dính bết trên quần áo và chiếc balô trên vai. Cô nói nho nhỏ:

– Mai em về quê, nhớ anh quá ghé thăm chút…

Thấy Liên run người vì lạnh, Sơn đỡ lấy chiếc balô:

– Em vào đi. Sao không đội nón để ướt hết, nhiễm lạnh chết!

Anh đi vào, rút một chiếc khăn khô ra đưa Liên:

– Em lau tóc đi. Ai trực dưới nhà mở cửa cho em vậy?

Liên đỡ lấy chiếc khăn, lòng thấy vui vì được chăm sóc:

– Thằng Mọi mở cửa đó!

Sơn phì cười. “Lưu Sơn” là biệt hiệu của anh, thì “Thằng Mọi” là biệt hiệu của Quốc Thịnh, tổ trưởng tổ kịch, do nước da đen thui của hắn một phần, còn một phần vì Thịnh luôn đối xử rất tốt với mọi người, sẵn sàng làm “thằng mọi” phục vụ anh em trong đội hết mình, không bao giờ nề hà chuyện gì. Liên nói thêm, cũng là một bằng chứng cho thấy sự nhiệt tình với bạn bè của Thịnh:

– Ảnh nói giờ này hết ai về rồi, ảnh khóa cửa đi ngủ luôn. Em cứ lên thăm anh, chừng nào về thì nói anh mở cửa giùm ảnh…

Đang nói, Liên dừng lại vì nhận ra bộ tướng chệnh choạng, ánh mắt vằn đỏ và mùi rượu nồng nặc tỏa ra từ người Sơn:

– Anh lại say nữa? Sao uống hoài vậy?

Sơn ngồi phệt xuống ghế:

– Ừ thì… anh buồn…

– Sao lại buồn? Anh Quang đâu?

– Về quê rồi.

– Anh không về thăm hai bác sao?

– Anh về tuần trước rồi…. Ờ mà em ăn gì chưa?

– Dạ rồi.

Liên nhìn quanh căn phòng bừa bãi không có một dấu hiệu nào của ngày Tết, thở dài:

– Tết nhất sao anh sống buồn vậy? Để em pha trà nóng cho anh uống giải rượu đỡ mệt.

Liên đốt bếp dầu bắc ấm nước, rồi trong khi chờ nước sôi, cô tự nhiên xắn tay áo quét dọn sắp xếp mọi thứ trong phòng cho thật sạch sẽ, ngăn nắp. Khi quay lại thấy Sơn đã gục đầu lên bàn, Liên liền lấy khăn vắt nước nóng lau mặt lau ngực cho anh, y như trước đây mẹ cô vẫn làm mỗi khi ba cô say. Quả nhiên Sơn tỉnh lại được chút ít, đưa mắt lờ đờ nhìn Liên. Nhưng không, chính là Vân đang đứng trước mặt anh! Vân, với hai khóe môi hơi cong lên như đang mỉm cười. Nàng về bao giờ và sao lại biết anh đang ở đây để tìm đến? Sơn chụp lấy tay nàng:

– Anh biết cuối cùng em sẽ về với anh mà. Sao em tốt với anh quá vậy?

Liên nhìn Sơn bằng đôi mắt sâu thẳm, nhẹ nhàng trách:

– Em thương anh lâu lắm rồi, anh không biết sao?

Sơn ngây dại nói:

– Mấy lâu nay em bỏ anh đi đâu?

– Em ở Xuyên Lâm chớ đâu! – Liên cười buồn – Sao anh không chịu viết thư cho em? Anh chê em không xứng với anh, phải không?

Sơn lảo đảo đứng dậy ôm Liên:

– Anh xin lỗi em… Chính anh mới không xứng với em… Em đừng bỏ anh nữa…

Liên thở dài:

– Anh mệt quá rồi, thôi nghỉ đi.

Dìu Sơn đến giường cho anh nằm xuống, Liên đi tới cửa thò đầu ra nhìn suốt hành lang, nghe tim đập thình thịch trong ngực. Dãy phòng tập thể đóng kín cửa, im lìm, tối thui. Nhiều người đã về quê. Số còn lại gặp trời mưa cúp điện chắc đang ngủ ngon. Liên bậm môi đóng cửa phòng gài chốt lại.

Cánh cửa phòng tắm đóng lại rồi tiếng xối nước, tiếng chà xát da thịt nhè nhẹ và mùi thơm xà bông Cô Ba thoảng ra, kích thích mạnh thính giác và khướu giác của chàng trai đang mơ màng chờ đợi. Liên lau mình thật vội rồi hé cửa nhìn ra, thấy trong bóng tối lờ mờ Sơn đã ngồi dậy, tựa lưng vào tường nhìn về hướng mình. Vẫn không mặc quần áo, Liên thổi tắt cây đèn dầu rồi đẩy cửa bước ra, lần bước đi tới giường. Con gái thật kỳ lạ, luôn e thẹn và mắc cỡ, nhưng khi đã yêu rồi thì lại khát khao được hiến dâng. Cái khó không phải là sự chiếm đoạt mà hãy làm sao cho được họ yêu, chuyện còn lại sau đó thường rất dễ dàng…

Điều Liên hoàn toàn không ngờ là khi cô đã mát rượi nằm trong tay Sơn và vội vã cởi quần áo cho anh, trong bóng tối đen kịt của căn phòng và trong cơn say mụ mẫm của Sơn, cô đã trở thành Vân của ngày nào cách đây hơn ba năm đang muốn dâng hiến cho Sơn, trong căn phòng của Vương. Và lần này thì Sơn không còn lý do gì để giữ gìn cho người yêu nữa. Họ hối hả quấn lấy nhau, cuống quýt đốt cháy người nhau bằng những cái hôn tới tấp tới tấp từ đầu xuống chân. Sơn ấn chặt mái tóc ướt của Liên, ưỡn người thở như một con cá mắc cạn khi được cô cúi xuống hôn, rồi vùng lên cuồng nhiệt đi vào cơ thể cô. Mười ngón tay Liên bấu ngập lưng Sơn, chịu đựng một cơn đau nhói nơi da thịt lần đầu bị rách toạc, mở ra con đường hoan lạc từ đây. Lạ lùng thay vết thương ấy lại êm dịu dần theo từng đợt sóng tình trơn ướt nối nhau ập vào ập vào miên man, dìm Liên chìm trong một vùng khoái cảm hun hút không bến không bờ không còn biết mình là ai làm gì ở đâu…

Tỉnh dậy lúc sáng sớm, Sơn hốt hoảng thấy chính là Liên đang say ngủ cạnh mình, cả hai cùng không mảnh quần áo che thân. Cô nằm sấp khoe chiếc lưng dài uốn lõm xuống eo, ngay mí nối với cặp mông nẩy còn điểm hai chiếc lúm đồng tiền hai bên làm duyên. Một tay Liên vắt ngang bụng Sơn như muốn giữ lấy anh, môi hé mở nhẹ nhàng thở mãn nguyện. Điều cô hằng mong muốn cuối cùng đã đến, như ý. Với Sơn thì còn gì để nói nữa? Chính thức anh đã chia tay với Vân từ nay, dù trong bóng tối – cơn say đêm qua, người mà anh đã ôm đã hôn đã yêu chính là Vân, mối tình đầu mịt mờ xa lắc chắc sẽ không bao giờ còn được gặp lại…

Liên ở luôn trong khu tập thể ban văn công suốt bốn đêm ba ngày từ tối hai chín đến sáng mùng ba Tết năm 1979 ấy – anh em đã quá biết chuyện tình giữa cô và Sơn, hoàn toàn thông cảm… làm lơ. Trừ những lúc ăn ngủ và vài buổi đi thăm bạn bè, thời gian còn lại họ đóng cửa phòng làm tình liên miên từ trên giường xuống dưới đất, lạ lùng là sự chủ động của Liên còn cao hơn Sơn, thậm chí cô còn hướng dẫn các động tác cho anh. Nếu không có dấu vết trinh nguyên của cô để lại trên mặt chiếu trong đêm đầu tiên, có lẽ Sơn phải sợ hãi khi thấy Liên có vẻ quá quen thuộc chuyện chăn gối. Làm sao anh có thể ngờ cô đã học được đủ kiểu cách làm tình từ năm mới mười lăm tuổi, qua khe hở của căn gác gỗ hàng đêm? Với không ít người, tình dục cũng chính là một loại ma túy, nếm trải chỉ một lần là bị ghiền, và Liên nằm trong trường hợp này – nếu không muốn nói là cô đã mê thích nó từ khi chưa thật sự biết. Còn Sơn? Khó trách được khi anh là một chàng trai khỏe mạnh lần đầu tiên được hưởng mùi vị trái cấm và cứ bị cái trái cấm vô cùng hấp dẫn ấy lôi đi, sau đêm động phòng trong vô thức đành tự coi như số phận đã an bài!

Sáng sớm mùng ba, hai người dọn dẹp căn phòng sạch sẽ rồi Sơn đưa Liên ra bến xe miền Tây tiễn cô về Châu Đốc. Trở về, anh lăn ra ngủ như chết cho đến khi bị Văn Quang lay dậy:

– Ê dậy nhậu nè! Có nhiều mồi ngon lắm! Cả ban nhậu tân niên, mai đi làm rồi!

Văn Quang quê Kiên Giang, nhờ đã chuẩn bị giấy giới thiệu mua hàng cho lực lượng nên được phép vác lên xe đò cả bao tải khô cá đủ loại, nhậu suốt tháng giêng chắc chưa hết. Cá thiều, cá đường, cá khoai, cá đuối… đem nướng lên chấm nước mắm me thì chỉ có nước uống đến lết bánh. Khi Sơn rửa mặt mũi tỉnh táo bước ra thì thấy Văn Quang đang hít hít mũi:

– Ủa sao phòng mình có mùi gì kỳ quá Sơn, át luôn mùi cá khô nữa?

Sơn ngạc nhiên:

– Có mùi gì đâu?

Văn Quang hít mạnh hơn rồi phán:

– Mùi tình! Âm khí mạnh lắm!

Rõ ràng Văn Quang đã được anh em báo cáo đầy đủ mọi chuyện và đang diễn trò chọc quê Sơn. Sơn nhào tới đấm Văn Quang:

– Cấm đụng tới đời tư văn nghệ sĩ nghe chưa?

Đó là câu nói anh em trong ban thường hay đùa với nhau mỗi khi muốn xuê xoa chuyện gì. Văn Quang vừa bỏ chạy vừa cười khà khà:

– Dạ nghe! Nhưng văn nghệ sĩ nhớ coi chừng “ủa sao em đứng một thành hai, ngực thấp bụng lại cao”[39] là kẹt lắm đó nghe văn nghệ sĩ!

[39] Lời Phạm Công nói với Tào Thị trong tuồng cải lương Phạm Công – Cúc Hoa.

Lời đùa giỡn đó thật ác nghiệt! Hơn một tháng sau, từ Xuyên Lâm, Liên gởi Quân đem về đưa Sơn một lá thư, thông báo cô đã mang thai! Cô đang cố giấu, nhưng đây là chuyện không thể che mắt mọi người lâu được…

3 đánh giá cho Như Núi Như Mây

  1. Phạm Hồng Thắm

    Sơn và Vân có một mối tình thật sâu đậm nhưng cũng thật ngang trái. Nhưng sau những lời hứa hẹn, thề thốt thì là gì? Cuối cùng thì Sơn cũng không kìm hãm được bản năng để sa vào cám dỗ, kết hôn cùng Liên để rồi có cuộc hôn nhân bi kịch. Vân, cũng đã kết hôn cùng Tâm khi không hề có tình cảm. Diễn biến câu chuyện được Nguyễn Đông Thức dẫn dắt rất hấp dẫn, nhưng ta cay đắng nhận ra rằng: bản năng cuối cùng đã thắng thế. Thật sự, nếu Vân và Sơn yêu nhau nhiều như họ tưởng, thì họ đã có sự kìm chế và sự lựa chọn đúng đắn hơn. Họ sẽ vẫn chờ nhau mà không cần “kết hôn vì hoàn cảnh”. Kết thúc không có hậu của quyển sách làm người đọc xót xa. Nhưng tôi vẫn thích một tình yêu chung thủy duy nhất và gìn giữ duy nhất cho một người.

  2. Huỳnh Thị Kiều Trâm

    Tôi biết và thích Nguyễn Đông Thức từ tác phẩm “Ngọc Trong Đá” viết về thanh niên xung phong. Câu chuyện của Vân và Sơn trong “Như Núi Như Mây” dù đẹp nhưng không thật sự thuyết phục tôi đây là một tình yêu vĩnh cửu. Họ thề thốt yêu nhau trọn đời và hứa rằng trọn đời sẽ không ai khác sẽ có được họ ngoài đối phương nhưng sự thật lại không hoàn toàn thế. Sơn vì không vượt qua “ham muốn” của bản năng mà đến với Liên dù không có tình yêu, và cả Vân nữa, cô đến với Tâm chỉ vì cần chỗ dựa thôi. Thật sự đây không thể coi là một tình yêu vĩnh cửu được vì tình yêu mãi mãi là chỉ duy nhất dành cho một người dù xa cách thế nào.

  3. Hồ Vân Trang

    Thường thì những người đã từng yêu nhau thì đọc câu chuyện tình này sẽ rất đồng cảm và thích!! Tôi mặc dù chưa từng trải nghiệm yêu người nào nhưng đọc xong câu chuyện vẫn cảm giác khó chịu, day dứt mãi về câu chuyện tình của Vân và Sơn!! một khi cầm quyển sách không tài nào bỏ xuống được vì cứ muốn xem tiếp xem tiếp xem chuyện tii2h 2 người đi đến đâu, liệu 2 người có còn gặp lại!! Tôi cam đoan đọc xong quyển này bạn nào cũng sẽ có cảm giác như tôi, giống như khi ta xem được một bộ phim tình cảm tuyệt vời vậy: câu chuyện cuốn ta theo, cái diễn biến câu chuyện xoáy vào tim ta cảm giác khó chịu cực kì!!

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
Close