Phim tâm lýPhim tiểu sửReview phim

Nghệ Nhân Sushi

Jiro Dreams of Sushi

Nội dung

Bộ phim không chỉ nói về món ẩm thực Nhật truyền thống sushi, giới thiệu 1 trong các nhà hàng Michelin 3 sao đáng thưởng thức nhất, mà còn nêu 1 tấm gương sáng về chí tiến thủ của đầu bếp Jiro, yếu tố làm nên thành công của ông.

Trailer

Review

Sự tâm huyết với nghề

Lien Vo 6.9 Medium

Bộ phim nói về sự tâm huyết với nghề của các đầu bếp sushi. Điển hình là nghệ nhân Jiro, thông qua những câu chuyện về nhà hàng nổi tiếng của ông, những tâm sự đằng sau căn bếp, những lời kể trong công việc hằng ngày…

Một số lý lẽ được làm rõ trong phim:

– Để trở thành “nghệ nhân” trong một lĩnh vực nào đó, chúng ta phải trải qua một quá trình khổ luyện không hề ngắn.

– Người đầu bếp phải luôn có chí tiến thủ, mong muốn nâng cao tay nghề để món ăn trở nên hoàn thiện hơn.

– Để nâng cao tay nghề, chúng ta phải luôn LUYỆN TẬP, LUYỆN TẬP không ngừng.

– Ngoài việc nâng cao kĩ năng, sự tận tâm, nghiêm túc với nghề còn là một yếu tố quan trọng dẫn đến thành công.

– Đối với một người đầu bếp tận tâm, mọi thứ trước khi được đưa ra phục vụ luôn có sự chuẩn bị kỹ càng nhất.

– Thời thế cuộc sống sẽ tạo động lực để con người tiến lên thực hiện mục tiêu của mình.

– Khi tầm ảnh hưởng của thương hiệu quá lớn, chúng ta có xu hướng bị đánh lừa và không nhận ra được bản chất bên trong của nó.

Các yếu tố về kể chuyện:

Simple — đơn giản

Bộ phim là câu chuyện thật từ những con người thật ở ngoài đời. Do đó, những hồi ức, trải nghiệm đều được chính họ kể lại bằng ngôn ngữ bình dị của mình.

Phim lấy đề tài về ẩm thực nên các góc quay về món ăn, từ bước tìm chọn nguyên liệu cho đến các khâu chế biến, trình bày đều rất lung linh và mang tính thẩm mỹ. Vậy nên, không cần quá nhiều lời thoại giải thích, những khoảnh khắc tĩnh kết hợp cảnh quay slow motion mang đến một sự tối giản về nội dung, khiến người xem cảm thấy dễ hiểu mà vẫn cuốn hút.

Unexpected — Bất ngờ

Các chi tiết bất ngờ được dàn trải đều từ đầu đến cuối câu chuyện. Mạch phim không bị ngang, đôi khi được đẩy lên bất ngờ bởi các đoạn đối thoại hài hước hay các sự thật “không tưởng” nhưng được dàn trải khéo, lại còn làm sáng tỏ cho những nội dung chính.

Ví dụ, trước khi tìm hiểu được nguyên nhân, người xem đã bị choáng ngợp bởi những sự thật thú vị khi phải đặt trước tại nhà hàng Jiro để rồi lại bất ngờ nhưng thỏa mãn bởi sự QUÁ kĩ tính của nghệ nhân Jiro trong các khâu phục vụ ở nhà hàng và đồng ý rằng, đúng là tiền nào của nấy!

Hay ở đoạn kết, sau khi người xem hiểu được quá trình kỳ công của một nghệ nhân thì mạch phim mang đến một cái “twist” khá thú vị như sự thật là người làm sushi cho Michelin không phải nghệ nhân Jiro mà chính là con trai cả của ông.

Ngoài ra, một bất ngờ thú vị ở giữa phim còn thể hiện từ triết lý dạy con của nghệ nhân Jiro khá là “ngược đời” so với số đông.

Concrete — Cụ thể

Ngoài các con số thú vị như thời gian xoa bóp cho bạch tuộc, số lần làm hỏng món tamagoyaki,… phim còn gây chú ý bởi sự cụ thể đến từ các đoạn tiêu chí chọn nguyên liệu của người bán cũng như cách mà nhà hàng Jiro chọn mua… hay những trải nghiệm bên lề cũng như khó khăn vấp phải của các đầu bếp học việc tại nhà hàng.

Đặc biệt, khi nhắc đến những thói quen trong công việc của nghệ nhân Jiro, những hình ảnh tái hiện lại rất chân thật, cụ thể và liền mạch lời thoại. Hay ở đoạn 5 yếu tố tạo nên 1 đầu bếp giỏi của ông nhà phê bình, những thước phim slow motion được quay rất đẹp mắt, khiến người xem có thể hình dung cụ thể về một hình mẫu đầu bếp tài ba là như thế nào.

Credible — Đáng tin

Với bản chất là một bộ phim tài liệu, độ tin cậy là tiêu chí số 1 để thuyết phục người xem.

Xuyên suốt gần 90 phút của bộ phim, ta có thể thấy các nhân vật xuất hiện và tham gia vào câu chuyện đều là những người có “máu mặt” và bề dày kinh nghiệm. Từ ông nhà phê bình ẩm thực đã từng xuất bản một số cuốn sách và ăn ở mọi nhà hàng Tokyo, những người đầu bếp được gọi là nghệ nhân như ông Jiro với 75 năm trong nghề, cho đến những chuyên gia về tôm, cá ngừ, bạch tuộc… ở ngoài chợ mà đến ông Jiro còn lấy làm nể phục.

Những pha đối thoại, độc thoại của các nhân vật thay phiên nhau liên tục khiến bộ phim có cái nhìn đa chiều. Các nhân vật có nhiều khoảnh khắc kể lại các mẫu chuyện dưới góc độ và trải nghiệm của mình hơn. Do đó, phim tăng tính thuyết phục khi nhắc đến những vấn đề chuyên môn như cách chế biến món ăn, cách chọn nguyên liệu…

Emotional — Cảm xúc

Câu chuyện lồng ghép nhiều cảm xúc đến người xem, đồng cảm từ các đoạn ông Jiro kể lại hồi ức mưu sinh, những câu chuyện hài hước thời quá khứ cho đến những trăn trở về dự báo về tương lai của nhà hàng.

Tuy nhiên, yếu tố cảm xúc được nâng lên cao trào trong những thước phim slow motion. Dưới góc quay đầy nghệ thuật, chúng ta cảm thấy sự sống động trong âm thanh réo rắt của làn nước, sự nâng niu của đầu bếp trong từng cử chỉ xoa bóp cho bạch tuộc, hay khi họ uyển chuyển các ngón tay để nắn bóp cơm, và quệt lớp sốt bóng mượt lên mình chiếc sushi đầy hấp dẫn. Phim về ẩm thực có lợi thế rất lớn là nắm gọn cảm xúc của người xem bằng mọi giác quan và bộ phim về nghệ nhân Jiro cũng không ngoại lệ.

Story — Câu chuyện

Câu chuyện về nghệ nhân Jiro là câu chuyện đến từ trải nghiệm. Về một người gắn bó với công việc và tận tụy một cách nghiêm túc với nó trong suốt 75 năm cuộc đời.

Người xem có xu hướng dễ đồng cảm với những câu chuyện trải nghiệm, đặc biệt khi đây là bộ phim tài liệu về người thật, việc thật. Bên cạnh đó, bộ phim còn lấy nền chủ đạo từ đề tài ẩm thực với các thước phim đầy nghệ thuật tạo sự mãn nhãn ngon mắt cũng là một yếu tố quan trọng tạo tính thu hút.

Ẩm thực Nhật Bản thật tuyệt vời

Như Lê 7.7 Mediym

Jiro Dreams of Sushi (JDS) là bộ phim tài liệu do một đạo diễn người Mỹ David Gelb cho ra mắt vào năm 2011. Bộ phim có cốt truyện đơn giản kể về giấc mơ đem đến sự hoàn thiện trong việc tạo ra sushi của một chuyên gia sushi, Jiro Ono, chủ nhân của nhà hàng chuyên phục vụ sushi ‘với giá đắt đỏ nhất’ Sukiyabashi Jiro ở Tokyo.

‘Ban đầu, tôi dự định quay một bộ phim tài liệu về nhiều nhà nghệ nhân sushi với nhiều cách chế biến sushi thật đa dạng, nhưng khi tôi dừng chân tại nhà hàng của ngài Jiro, tôi bị choáng ngợp không chỉ ở sự cao cấp của sushi và sự khác biệt của nhà hàng so với những nơi khác, mà còn ở chính bản thân ngài Jiro, quả thật là một người thú vị, một nguồn cảm hứng vô tận để dựng thành phim.’ — đạo diễn David.

Bộ phim được đánh giá 7.9 trên hệ thống IMDB và được lưu truyền như một cuốn phim thú vị đáng xem mặc cho bạn có hứng thú với ẩm thực Nhật Bản hay không, ‘trong khi xem phim, tôi không ngừng tò mò suy nghĩ về người đàn ông bí ẩn, Jiro.’ — Roger Ebert.

Tôi cũng vậy, sau khi xem xong, về sau luôn nghĩ: liệu ông ấy có ước mơ những thứ nằm ngoài hiện thực không nhỉ?; làm thế nào mà một người bình thường có thể biết được nhân viên của mình đã mát xa cho bạch tuột trong 45 phút thay vì chỉ trong 30 phút?; và làm thế nào ông ấy có thể luôn luôn đấu tranh mỗi ngày để hoàn thiện bản thân đến vậy, bởi lẽ 30 phút mát xa hải sản đã đủ để đạt được 3 sao Michelin rồi. Chắc chắn đó cũng là những câu hỏi chung cho những ai đã xem qua bộ phim này.

À, một lời khuyên nhỏ cho những ai đọc đến đây và chuẩn bị đi tìm phim để coi thử: không nên coi phim lúc đang đói bụng đâu nhé. Dưới góc quay chuẩn xác của những nhà nghiên cứu ẩm thực và đạo diễn ‘yêu ẩm thực’ David, những góc thịt cá ngừ như bóng loáng, miếng tôm trên sushi sau khi được phết dầu vừng trở nên lấp lánh kì diệu, khiến người xem chỉ có thể nuốt nước bọt liên tục. Hoặc có những khi độ ‘dã man’ còn nâng cấp hơn, người ta quay cận cảnh cả những miếng thịt màu đỏ tươi thấy được cả thớ thịt đang chờ được đặt lên trên cơm, và vẻ mặt thõa mãn của các khách hàng khi họ đưa những miếng sushi ấy vào miệng, nhắm mắt lại để thưởng thức. Khách hàng của nhà hàng thường hay nói đùa ‘chưa thấy ở nơi đâu mà phục vụ sushi với giá đắt như thế này’ nhưng mà ‘không hiểu sao, chỉ có ăn sushi ở đây, chúng tôi mới cảm nhận được sự mãn nguyện và hạnh phúc’.

Jiro là con người thuộc về sushi, là nghệ nhân cả cuộc đời chỉ hướng về niềm đam mê chinh phục ‘cái tốt nhất của những cái tốt nhất’. Niềm đam mê đó cũng lan truyền và ảnh hưởng sâu sắc đến cả 2 người con trai của ông: cả 2 cũng đều là nghệ nhân sushi. Bộ phim không chỉ đơn thuần nói về món ăn, đâu đó xuyên suốt cả bộ phim, bạn sẽ nhận ra không ít triết lý giản đơn mà thấm sâu. Ví dụ như, cách mà Jiro được dạy và dạy lại cho 2 người con của ông đó là, khi con cái đến tuổi trưởng thành, ra ngoài tự lập, hãy bảo với nó là ‘Con đã không còn nhà để trở về nữa’, chỉ còn con đường duy nhất đó là thành công, tự bước đi trên chính con đường của bản thân.

Trong tiếng Nhật, từ ‘Umami’ là một từ ngữ dùng để diễn tả trạng thái hài lòng của cá nhân khi đang thưởng thức thứ mình yêu thích. Ví dụ như người ta mỗi khi uống bia, sẽ kêu lên tiếng “khà” hoặc khi ngâm mình trong bồn tắm sẽ phát ra tiếng “ahh” dễ chịu. Với Jiro cũng vậy, ông luôn tìm cách để khách hàng được thưởng thức sushi của mình và đạt được tới trạng thái của ‘umami’ như thế. Bộ phim Jiro Dreams of Sushi có lẽ cũng đã đưa đến cho mọi người phần ‘umami’ của mình, bởi khi kết thúc phim, tôi không ngừng tự hỏi bản thân ‘liệu bản thân có đang đi trên con đường mà mình mơ ước?’ và nếu câu trả lời là không, vậy ‘tôi cần phải làm gì tiếp theo?’.

Chuyện đời, chuyện nghề của một Shokunin

chancanho 8.2 Blogger

Tớ đang cố gắng làm cho xong bài tiểu luận cuối cùng của đời sinh viên bằng một nỗ lực không mấy thích thú cho lắm. Vẫn còn rất nhiều, rất nhiều tài liệu đang chờ tớ đọc, nhưng sao tớ vẫn ngồi trước laptop, trong một buổi chiều mưa gió và viết những dòng này nhỉ?

Jiro Dream Of Sushi là lý do khiến tớ bò lên đây viết vài dòng về nó trước khi cái não cá vàng của mình quên mất những gì tớ muốn viết về bộ phim tài liệu này.

Hồi tớ chưa lên Sài Gòn, phim tài liệu luôn là chương trình ba tớ thích coi thứ nhì khi bật TV lên, sau mấy phim cổ trang Trung Quốc. Lúc đầu tớ không thích xem phim tài liệu, vì nó buồn ngủ chết được. Lớn hơn một chút, tầm lớp 11, tớ bắt đầu thích dòng phim này.

Mỗi lần xem xong một bộ tài liệu nào, tớ lại thầm cảm kích những người làm ra chúng. Họ thực sự là những anh hùng thầm lặng. Có những bộ mất gần cả chục năm mới hoàn thành, có những đoạn phim tưởng chừng như bình thường nhưng để quay được nó có những người phải đổ cả máu chứ chưa nói gì tới nước mắt. Phim tài liệu thường được cho là khô khan, vậy nên cắt ghép cắt phân cảnh, lên ý tưởng sao cho nó tạo thành một câu chuyện và truyền tải thông điệp cũng là thứ không hề dễ dàng gì.

Sau một thời gian mải miết với phim điện ảnh thì hôm nay tớ vô tình xem được bộ phim tài liệu Jiro Dream Of Sushi (tạm dịch: Bậc thầy Sushi) của một đạo diễn người Mỹ, David Gelb. Hơn cả một bộ phim tài liệu về một nghệ nhân làm Sushi nổi tiếng nhất của Nhật Bản, Jiro Dream Of Sushi còn cho tớ nhiều góc nhìn thú vị về sự giao thoa trong công việc và cuộc sống. Công việc không chỉ là công việc, khi nó đã trở thành cái nghề, nó là cả cuộc sống của chúng ta. Chỉ khi cậu thực sự yêu nó, cậu mới có thể sống với nó dài lâu.

Đây là bộ phim tài liệu về Sushi – và người đầu bếp làm ra nó, Ono Jiro dưới con mắt của một đạo diễn người Mỹ. Do đó, cảm nhận đầu tiên của tớ khi xem bộ này là nó chứa dựng sự mộc mạc thường thấy trong các phim tài liệu mang phong cách Nhật, kết hợp chút nhấn nhá bằng âm nhạc tạo cảm giác gây cấn, hấp dẫn không khác gì một bộ phim điện ảnh chúng ta hay xem.

Phải công nhận rằng cách dẫn dắt mạch truyện của Jiro Dreams Of Sushi rất duyên, mọi thứ đều rất tự nhiên như cách tớ và cậu đang ngồi nghe một câu chuyện từ ông hay bà của mình vậy.

Ono Jiro, một người bắt đầu học làm Sushi từ năm 15 tuổi cho đến khi 85 tuổi vẫn không ngừng làm việc và sáng tạo những món ăn liên quan đến Sushi. Gia tài sự nghiệp của ông chỉ là một cửa hàng nhỏ có hơn 20 chỗ ngồi, thậm chí không có nhà vệ sinh, nhưng vẫn được đánh giá là một nhà hàng 3 sao, được các chính khách trong nước chọn là nơi giới thiệu nét văn hóa ẩm thực nước nhà cho các nhà lãnh đạo nước ngoài. Là nhà hàng mà bất cứ khách du lịch nào sành ăn cũng muốn đến khi có dịp đặt chân đến Nhật Bản.

Vì sao Jiro lại làm được tất cả điều này? Và vì sao ông trở thành nghệ nhân (Shokunin) làm Sushi được kính trọng nhất trong nghề? Đương nhiên bộ phim này sẽ giải đáp tất cả những điều trên cho các cậu. Nhưng thứ làm tớ ấn tượng hơn không phải là cách ông gầy dựng nhà hàng của mình như thế nào, cũng không phải là việc ông chú ý và chăm sóc cho từng thực khách trong lúc phục vụ họ, mà là cái bóng quá lớn mà ông để lại cho những người xung quanh mình. Là con trai, đồng nghiệp, học trò, người làm việc cùng Jiro.

Hình ảnh Jiro luôn xuất hiện và ám ảnh trong từng hành động, suy nghĩ của những người làm việc cùng ông, điêu này sẽ khiến họ gặp rất nhiều khó khăn nếu một ngày nào đó ông ra đi. Và như biết trước điều đó, Jiro cũng đang từng ngày nỗ lực truyền đạt cho con trai và học trò tất cả những gì ông đúc kết được trong suốt 65 năm làm đầu bếp của mình. Ông cũng không kì vọng đứa con sẽ vượt qua mình, chỉ mong rằng anh và các học trò của mình sẽ làm nghề một cách nghiêm túc.

Xem phim, các cậu sẽ thấy để trở thành một người đầu bếp làm Sushi đích thực cần rất nhiều thời gian. Nó là công việc tỉ mẩn và công phu nhất trên cuộc đời này. Một người làm Sushi phải biết vắt khăn nóng đầu tiên trước khi được chạm vào cá. Sau đó, người đầu bếp phải học cách chế biến nguyên liệu thô trước khi được lên bàn làm Sushi trong vòng 10 năm. Trung bình một đầu bếp nếu thật sự muốn được Jiro truyền dạy nghề về Sushi, phải làm việc ít nhất ở nhà hàng ông 10 năm.

Đó cũng là ý nghĩa của từ nghệ nhân (Shokunin) – chính là người mỗi ngày đều làm đi làm lại một thứ với thái độ cần cù và cực kì nghiêm túc.

Có lẽ nếu tớ nói thêm nữa thì sẽ thành spoil mất. Nên nếu các cậu thấy thú vị và tò mò hãy cứ thử xem nó đi nhé! Xem xong rồi có khi đặt luôn mục tiêu một ngày nào đó sẽ đến Nhật ghé nhà hàng của Jiro ăn Sushi cũng nên. :))

Vậy nhá, thôi tớ trở về thực tại với bài tiểu luận khô khan của mình đây!!!

Have fun!

Đánh giá

Nội dung - 7.5
Diễn xuất - 7.3
Nhạc phim - 7.1
Kỹ xảo điện ảnh - 6.9
Thông điệp truyền tải - 7.3

7.2

Tâm huyết

Chuyện đời, chuyện nghề của một Shokunin

User Rating: 3.4 ( 1 votes)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
Close